Giải đáp vướng mắc thuế – Cục thuế đối thoại với doanh nghiệp Hàn Quốc

13

Dưới đây là tổng hợp Giải đáp vướng mắc thuế – Cục thuế đối thoại với doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2025 được công bố trên trang tin

Thảo luận Topic tại: https://www.facebook.com/groups/congvanketoan/

Câu 1 Nội dung vướng mắc:

Về việc loại bỏ chi phí liên quan trong trường hợp vi phạm quy định của pháp luật chuyên ngành.

a. Cơ sở pháp lý và vướng mắc:

Điểm m khoản 2 Điều 9 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 do Quốc Hội ban hành ngày 14/06/2025 về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:

2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

………….

m) Khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ các khoản chi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; khoản chi không đáp ứng điều kiện chi, nội dung chi theo quy định của pháp luật chuyên ngành;”

b. Vướng mắc của doanh nghiệp:

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp mới có quy định rằng nếu doanh nghiệp vi phạm các quy định của pháp luật khác thì các chi phí liên quan có thể không được coi là chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế.

Liên quan đến nội dung này, đề nghị trong Nghị định hướng dẫn cần quy định một cách rõ ràng và cụ thể:

Vi phạm ở mức độ nào ?

Mức độ liên quan giữa hành vi vi phạm và chi phí phát sinh đến đâu thì mới bị coi là không được trừ vào chi phí hợp lý.

Ví dụ:

Trong trường hợp doanh nghiệp vận chuyển sản phẩm đến khách hàng nhưng người lái xe vi phạm tín hiệu giao thông trong quá trình vận chuyển, thì chi phí vận chuyển này có bị coi là không hợp lệ về mặt thuế hay không?

Tương tự, nếu thời gian làm thêm của người lao động vượt quá giới hạn do Bộ luật Lao động quy định, nhưng doanh nghiệp vẫn trả tiền làm thêm giờ theo hợp đồng lao động đã ký và người lao động thực tế đã làm việc trong thời gian đó, thì đây không thể bị coi là hành vi bất hợp pháp. Trong trường hợp đó, tiền lương làm thêm vẫn là khoản chi trả hợp pháp và không nên bị loại khỏi chi phí hợp lý khi tính thuế.

Mặt khác, khi vi phạm các luật khác, doanh nghiệp có thể đã bị xử phạt hành chính (ví dụ: phạt tiền). Nếu trong trường hợp này, ngoài tiền phạt không được tính vào chi phí, các chi phí liên quan khác cũng bị loại, thì doanh nghiệp sẽ bị “phạt hai lần” cho cùng một hành vi – vừa chịu xử phạt hành chính, vừa bị loại trừ chi phí về thuế.

 c.               Ý kiến đề xuất:

Nghị định cần giới hạn rõ ràng và cụ thể các trường hợp chi phí không được công nhận do vi phạm pháp luật khác, thay vì áp dụng chung chung, để đảm bảo tính công bằng và minh bạch cho doanh nghiệp.

Trả lời

                – Tại điểm m khoản 2 Điều 9 Luật thuế TNDN sửa đổi quy định các khoản chi không được trừ khi tính thuế TNDN bao gồm: “Khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ các khoản chi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; khoản chi không đáp ứng điều kiện chi, nội dung chi theo quy định của pháp luật chuyên ngành;”.

– Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2025 và áp dụng năm tài chính 2025.

Vì vậy, việc xác định các khoản chi được trừ và không được trừ khi tính thuế TNDN, doanh nghiệp cần căn cứ quy định tại Luật thuế TNDN sửa đổi, các văn bản hướng dẫn thi hành và pháp luật chuyên ngành có liên quan, tình hình thực tế của doanh nghiệp để áp dụng chính sách đúng quy định pháp luật.

Câu 2

Đề xuất mở rộng đối tượng áp dụng được hỗ trợ theo diện công nghệ cao.

  1. Cơ sở pháp lý và vướng mắc:

Ngày 31 tháng 12 năm 2024, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 182/2024/NĐ-CP về việc thành lập, quản lý và vận hành Quỹ Hỗ trợ Đầu tư. Quỹ này sẽ hỗ trợ một khoản nhất định nhằm mục đích hỗ trợ đầu tư, bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng như chi phí đầu tư mới cho các đối tượng sau, với điều kiện đáp ứng các yêu cầu nhất định về đầu tư và doanh thu:

①Doanh nghiệp công nghệ cao

② Doanh nghiệp có dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm công nghệ cao

③ Doanh nghiệp có dự án ứng dụng công nghệ cao

④ Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D)

  1. Câu hỏi:

Năm 2024 Việt Nam đã thực hiện áp thuế tối thiếu toàn cầu ( QDMTT, thuế suất 15%).

Việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu làm giảm hiệu quả của chính sách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài  đang được hưởng mức ưu đãi thuế suất (0%, 5%, 8.5%, 10%) dẫn đến phát sinh khó khăn lớn cho các doanh nghiệp.

Chính Phủ Việt Nam đã ban hành nghị định 182/2024 NĐ-CP để hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ cao bị ảnh hưởng của việc giảm ưu đãi thuế thu nhập , công ty chúng tôi có quy mô đầu tư, doanh thu cũng như những đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam nhưng chỉ duy nhất không thuộc lĩnh vực High tech nên khả năng rất lớn là không thể nhận được chính sách hỗ trợ này.

  1. Ý kiến đề xuất:

Vì thế chúng tôi kiến nghị Chính Phủ Việt Nam mở rộng phạm vi đối tượng ngành được hưởng hỗ trợ theo công nghệ cao như các sản phẩm trong lĩnh vực dệt may, hóa chất , spandex, vỏ lốp xe, nylon, BiO BDO , sợi carbon, PP ( Poly Propylene) của công ty chúng tôi sản xuất , như vậy để các doanh nghiệp có sự đóng góp lớn cho nên kinh tế cũng đảm bảo nhận được hỗ trợ.

Trả lời

Ngày 31/12/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 182/2024/NĐ-CP quy định về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Theo đó, Quỹ Hỗ trợ đầu tư thực hiện việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước cấp và nguồn hợp pháp khác để chi hỗ trợ cho doanh nghiệp theo đối tượng, điều kiện, nội dung và mức hỗ trợ quy định tại Nghị định này nhằm ổn định môi trường đầu tư, khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đối với một số lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư, phù hợp với định hướng thu hút đầu tư và phát triển ngành, lĩnh vực.

Câu 3

a. Cơ sở pháp lý và vướng mắc:

Theo khoản 3 Điều 1 Nghị định số 49/2022/NĐ-CP của Chính phủ, các doanh nghiệp có thể được hoàn thuế VAT, hồ sơ cần thiết để hoàn thuế VAT được quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 28 của Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, do chi nhánh không được công nhận là một chủ thể kinh tế theo Luật Đầu tư, nên không thể ghi tên chi nhánh trên Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC), điều này gây khó khăn trong quá trình hoàn thuế VAT.

b. Câu hỏi:

Công ty chúng tôi đang tiến hành dự án sản xuất Bio BDO thân thiện với môi trường với tổng mức đầu tư 730 triệu USD, quy mô 220.000 tấn/năm, diện tích 25ha tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 2, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Dự án này là dự án thân thiện với môi trường, trong đó chi phí sản xuất cao gấp hơn 2 lần so với phương pháp sản xuất BDO truyền thống từ than đá và đòi hỏi vốn đầu tư quy mô lớn. Do đó, để dự án thành công, việc hoàn thuế VAT đầu tư phát sinh trong giai đoạn đầu tư bắt buộc phải được thực hiện.

Tuy nhiên, cơ quan thuế Vũng Tàu cho rằng trên IRC của dự án, nhà đầu tư (Investor) chỉ được đăng ký là pháp nhân Hyosung Đồng Nai và không đề cập cụ thể về “chủ thể” thực hiện dự án, nên để hoàn thuế VAT đầu tư cho chi nhánh, cần đăng ký chi nhánh Vũng Tàu làm đơn vị thực hiện dự án trên IRC. Cơ quan cấp IRC là BIZA lại đề cập rằng do chi nhánh không có tư cách pháp nhân nên không thể thực hiện thay đổi IRC để chi nhánh trở thành “chủ thể” thực hiện dự án đầu tư.

c. Đề xuất:

Công ty chúng tôi đã triển khai dự án Bio BDO rất hy vọng với khoản đầu tư lớn để phát triển ngành công nghiệp thân thiện với môi trường tại Việt Nam, chúng tôi đề nghị Quý cơ quan hỗ trợ  đăng ký cho chi nhánh Vũng Tàu làm “chủ thể” thực hiện dự án trên IRC để việc hoàn thuế VAT đầu tư tại chi nhánh được thực hiện thuận lợi. Ngoài ra, nếu có các giải pháp thay thế khác để đảm bảo chi nhánh có thể hoàn thuế VAT đầu tư, chúng tôi rất mong nhận được sự tư vấn và hỗ trợ từ các cơ quan.

Trả lời:

Liên quan đến vướng mắc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư của Hyosung Đồng Nai, Cục Thuế chưa nhận được vướng mắc bằng văn bản của đơn vị. Tuy nhiên, từ 01/7/2025, theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết Luật thuế GTGT số 48/2024/QH15 đã có quy định về việc cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới hoặc giao cho Ban Quản lý dự án, chi nhánh trực tiếp thực hiện, quản lý dự án đầu tư thì tổ chức kinh tế mới thành lập, Ban Quản lý dự án, chi nhánh được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư. Cụ thể:

Điều 30. Hoàn thuế đối với đầu tư

1. Cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế có dự án đầu tư (dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng) theo quy định của pháp luật về đầu tư (bao gồm cả dự án đầu tư được chia thành nhiều giai đoạn đầu tư hoặc nhiều hạng mục đầu tư, trừ trường hợp dự án đầu tư không hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp) đang trong giai đoạn đầu tư hoặc dự án tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư mà chưa được hoàn thuế thì cơ sở kinh doanh thực hiện bù trừ với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hoạt động sản xuất, kinh doanh đang thực hiện (nếu có). Sau khi bù trừ nếu số thuế giá trị gia tăng đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng. Trường hợp dự án đầu tư đã hoàn thành (bao gồm cả dự án đầu tư chia thành nhiều giai đoạn, hạng mục đầu tư có giai đoạn, hạng mục đầu tư đã hoàn thành) nhưng cơ sở kinh doanh chưa thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng phát sinh trong giai đoạn đầu tư (hạng mục đầu tư, giai đoạn đầu tư đã hoàn thành) thì cơ sở kinh doanh thực hiện nộp hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định trong thời hạn 01 năm kể từ ngày dự án đầu tư hoặc ngày giai đoạn đầu tư, hạng mục đầu tư hoàn thành. Ngày dự án đầu tư hoặc ngày giai đoạn, hạng mục đầu tư hoàn thành là ngày phát sinh doanh thu của dự án đầu tư hoặc ngày phát sinh doanh thu của giai đoạn, hạng mục đầu tư. Doanh thu quy định tại Điều này không bao gồm doanh thu phát sinh trong giai đoạn chạy thử, doanh thu hoạt động tài chính, thanh lý nguyên vật liệu của dự án đầu tư.

Trường hợp cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới hoặc giao cho Ban Quản lý dự án, chi nhánh trực tiếp thực hiện, quản lý dự án đầu tư thì tổ chức kinh tế mới thành lập, Ban Quản lý dự án, chi nhánh được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư. Tổ chức kinh tế mới thành lập, Ban Quản lý dự án, chi nhánh phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hoạt động sản xuất, kinh doanh đang thực hiện của cơ sở kinh doanh, tổ chức kinh tế, chi nhánh cùng kỳ tính thuế (nếu có). Sau khi bù trừ nếu số thuế giá trị gia tăng đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều này. Khi dự án đầu tư, giai đoạn đầu tư, hạng mục đầu tư đã hoàn thành, trường hợp tổ chức kinh tế mới thành lập, Ban Quản lý dự án, chi nhánh không tiếp tục quản lý, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh mà do chủ dự án đầu tư trực tiếp quản lý, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc giao cho cơ sở kinh doanh khác quản lý, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh thì tổ chức kinh tế mới thành lập, Ban Quản lý dự án, chi nhánh phải bàn giao số thuế giá trị gia tăng chưa khấu trừ hết của dự án đầu tư để bàn giao cho chủ dự án đầu tư hoặc cơ sở kinh doanh được giao quản lý, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh để tiếp tục kê khai, khấu trừ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh vào kỳ tính thuế tiếp theo ngày dự án đầu tư hoặc ngày giai đoạn đầu tư, hạng mục đầu tư hoàn thành.

Trường hợp dự án đầu tư đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng phải chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư, chưa phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu ra của hoạt động sản xuất, kinh doanh chính theo dự án đầu tư thì cơ sở kinh doanh phải nộp lại số thuế giá trị gia tăng đã được hoàn của dự án đầu tư vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý thuế; đối với số thuế giá trị gia tăng chưa được hoàn thì không được giải quyết hoàn thuế.”

Do đó, đối với dự án đầu tư của Công ty đang đầu tư tại Bà Rịa-Vũng Tàu, đề nghị Công ty nghiên cứu quy định trên và cung cấp hồ sơ cụ thể để Thuế TP Hồ Chí Minh xem xét hướng dẫn và giải quyết.

Câu 4

Nội dung vướng mắc:

1. Về ưu đãi thuế TNDN sửa đổi trong dự thảo sửa đổi Luật công nghệ cao:

Theo nội dung dự thảo sủa đổi Luật công nghệ cao, các tiêu chí, điều kiện đối với DN CNC tăng lên, mức ưu đãi thuế đối với DN công nghệ cao giảm xuống rất nhiều, về phân loại doanh nghiệp công nghệ cao để cấp ưu đãi thuế có sự phân biệt giữa doanh nghiệp có vốn của nhà đầu tư Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài, bỏ việc cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt là chưa có điều khoản chuyển tiếp để đảm bảo ưu đãi đầu tư khi có chính sách pháp luật thay đổi cho các doanh nghiệp đang hoạt động và ưu đãi theo Luật hiện hành.

Về vấn đề này có liên quan đến sửa dổi Luật thuế TNDN và ưu đãi thuế TNDN nên chúng tôi mong muốn Bộ tài chính xem xét thấu đáo trước khi ban hành để đảm bảo ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao như chúng tôi.

2. Chúng tôi rất mong muốn Bộ tài chính sớm hoàn thiện các quy định, quy trình để các hồ sơ về APA của công ty được triển khai giúp cho Công ty tăng thêm tuân thủ tính minh bạch về thuế của đoàn đa quốc gia.

3. Vướng mắc về hoàn Thuế GTGT: Liên quan đến quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Luật thuế GTGT số 48/2024/QH15: Công ty đề nghị cơ quan thuế tiếp tục hoàn thuế đối với các giao dịch nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác phát sinh tới ngày 30/6/2025.

Khi xuất hàng hóa, linh kiện của hàng hóa, NVL nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất nhưng thay đổi mục đích sử dụng và xuất khẩu sang nước khác đề nghị được áp dụng như hướng dẫn cho trường hợp thanh lý nguyên vật liệu bằng hình thức xuất bán cho khách hàng nước ngoài như hướng dẫn của Tổng Cục Hải quan tại công văn số 39/TCHQ-GSQL ngày 04/01/2023.

Quá trình xử lý:

Các công ty thuộc tập đoàn Samsung tại Việt Nam đã có công văn số 0502/2025/SEV-FIN ngày 19/02/2025 gửi Bộ Tài chính nội dung vướng mắc này nhưng chưa được trả lời.

Trả lời

1)

   Ngày 31/12/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 182/2024/NĐ-CP quy định về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Theo đó, Quỹ Hỗ trợ đầu tư thực hiện việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước cấp và nguồn hợp pháp khác để chi hỗ trợ cho doanh nghiệp theo đối tượng, điều kiện, nội dung và mức hỗ trợ quy định tại Nghị định này nhằm ổn định môi trường đầu tư, khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đối với một số lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư, phù hợp với định hướng thu hút đầu tư và phát triển ngành, lĩnh vực.

Về đề xuất của Công ty về việc mở rộng phạm vi đối tượng ngành được hưởng hỗ trợ tương tự như Nghị định số 182/2024/NĐ-CP cho các ngành nghề, lĩnh vực khác chịu ảnh hưởng của thuế tối thiểu toàn cầu, Bộ Tài chính ghi nhận, nghiên cứu trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét.

2)

* Tình hình triển khai và xử lý hồ sơ

Kể từ khi Thông tư 201/2013/TT-BTC có hiệu lực (2014) đến nay, Tổng cục Thuế đã tiếp nhận:

– 38 hồ sơ tham vấn APA, trong đó:

              (1) Hồ sơ đơn phương: 07 (giai đoạn 2014–2019). Kết quả:

01 hồ sơ Vụ HTQT đã hoàn thành tham vấn và nộp hồ sơ chính thức;

06 hồ sơ còn lại có hồ sơ dừng xử lý do hướng dẫn nhưng NNT không phản hồi hoặc NNT rút tham vấn để nộp hồ sơ chính thức theo quy định mới.

(2) Hồ sơ song phương: 31 (26 hồ sơ tiếp nhận 2014–2019; 5 hồ sơ tiếp nhận năm 2020). Trong số này nhiều hồ sơ đã hoàn tất tham vấn hoặc NNT nộp hồ sơ chính thức theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP.

– 44 hồ sơ đề nghị áp dụng APA chính thức, trong đó:

(1) Hồ sơ đơn phương – 06 hồ sơ trong đó:

01 hồ sơ tiếp nhận 2015 đã hoàn thành thẩm định, đàm phán với NNT nhưng chưa được phê duyệt;

05 hồ sơ tiếp nhận 2022 và thời hạn đề nghị áp dụng APA đã kết thúc

Vì vậy đến nay các hồ sơ này đã có thời hạn đề nghị áp dụng APA kết thúc và đã dừng xử lý theo quy định tại Thông tư 45

(2) Hồ sơ song phương – 38 hồ sơ trong đó:

+ Trước 2019 tiếp nhận 12 hồ sơ, trong đó có 05 hồ sơ đã thực hiện đàm phán 1 vòng với CQT đối tác nhưng chưa đi tới ký kết APA). Đến nay, các hồ sơ này đã đã có thời hạn đề nghị áp dụng APA kết thúc và đã dừng xử lý theo quy định tại Thông tư 45.

+ Giai đoạn 2020 – 2025 đã tiếp nhận 26 hồ sơ, trong đó: 17 hồ sơ vẫn đang giải quyết; 9 hồ sơ còn lại đến này có thời hạn đề nghị áp dụng APA đã kết thúc và đã dừng xử lý theo quy định tại Thông tư 45.

* Phương hướng xử lý trong thời gian tới

                – Theo quy trình xử lý hồ sơ APA hiện tại, đối với hồ sơ APA song phương và đa phương cần báo cáo Chính phủ phê duyệt, nhưng đến nay, Chính phủ đã phân quyền cho Bộ Tài chính thực hiện xử lý hồ sơ APA tại Nghị định 122/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2025.

                – Đồng thời, Bộ Tài chính cũng đang thực hiện sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế, trong đó có sửa điều khoản liên quan tới cơ sở dữ liệu theo hướng chuẩn hóa và sử dụng được (sử dụng các cơ sở dữ liệu sử dụng trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết để đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế khi xử lý hồ sơ APA).

   – Sau khi ngành thuế tái cơ cấu bộ máy tổ chức, chủ trương của Lãnh đạo Cục Thuế là đẩy mạnh việc xử lý các hồ sơ APA.

3)

Về kiến nghị “đề nghị cơ quan thuế tiếp tục hoàn thuế đối với các giao dịch nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác phát sinh tới ngày 30/6/2025”:

+ Từ ngày 01/02/2018 đến trước ngày 01/7/2025:

Tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2018) quy định như sau:

“3. Cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài, có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý;…

Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu mà hàng hóa xuất khẩu đó không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan.”

+ Từ ngày 01/7/2025:

Tại Điều 29 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) quy định về hoàn thuế đối với xuất khẩu như sau:

“1. Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý, trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác. Trong đó:

               b) Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác là hàng hóa do cơ sở kinh doanh nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam sau đó trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu, không bao gồm hàng hóa là nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu.”

Câu 5

Nội dung vướng mắc: Vướng mắc về thủ tục hoàn thuế GTGT

Công ty TNHH Dowooinsys Vina; Mã số thuế: 4601592929, gửi Đề nghị hoàn thuế GTGT, kỳ đề nghị hoàn từ tháng 05/2025 đến hết tháng 07/2025; hoàn thuế GTGT đối với trường hợp xuất khẩu của CSKD trực tiếp sản xuất.

– Với kỳ đề nghị hoàn thuế như trên, có được tách kỳ đề nghị hoàn thuế để tính số thuế GTGT được hoàn hay không?

+ Tháng 5 – 6/2025: theo hiệu lực của Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2028 của Bộ Tài chính.

+ Tháng 7: áp dụng quy định của Thông tư số 69/2025/TT-BTC ngày 01/7/2025 của Bộ Tài chính.

Hay phải xác định là một kỳ hoàn để phân bổ? Nếu không được tách thì áp dụng theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật (Thông tư) nào để tính số thuế GTGT được hoàn cho cả kỳ đề nghị hoàn thuế?

– Nếu tách và áp dụng theo hiệu lực của chính sách thuế GTGT từng thời điểm thì đối với số thuế GTGT được hoàn của tháng 7/2025 có được áp dụng theo hướng dẫn về xác định số thuế được hoàn đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại Phụ lục II của Thông tư số 69/2025/TT-BTC ngày 01/7/2025 của Bộ Tài chính hay không? (Tính đầu kỳ hoàn là dư cuối kỳ tháng 6 chuyển sang phân bổ tính số thuế được hoàn trong tháng 7).

Trả lời

Tại Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 quy định:

Điều 58. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

2. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi, sự kiện xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.”

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Công ty có kỳ đề nghị hoàn thuế từ tháng 5/2025 đến hết tháng 7/2025 đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thì Công ty xác định số thuế được hoàn từ tháng 5/2025 đến tháng 6/2025 theo hướng dẫn tại Thông tư số 25/2018/TT-BTC và xác định số thuế được hoàn của tháng 7/2025 theo hướng dẫn tại Thông tư số 69/2025/TT-BTC.

Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2025: Nội dung trả lời câu hỏi Hội nghị (Phần II)

Ngày 30/09/2025

Câu 6

(Korea Embassy, Công hàm số KEV-25-162 ngày 21/2/2025): Đề nghị áp dụng miễn thuế liên quan đối với thu nhập từ lãi tiền vay của ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (Dong Ah Vina)

DONG AH VINA(Mã số thuế: 4300846009) là công ty sản xuất săm lốp cao su tại tỉnh Quảng Ngãi và đang tạo việc làm cho khoảng 200 nhân viên người Việt Nam.

DONG AH VINA đã vay 5 triệu đô la Mỹ từ Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc (Ngân hàng KEXIM) và xin được miễn thuế đối với khoản thu nhập từ lãi tiền vay công ty trả lãi cho Ngân hàng KEXIM. Tuy nhiên, ngày 13/1/2025, Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi đã từ chối vì cho rằng thu nhập từ lãi tiền vay của doanh nghiệp không thuộc đối tượng được miễn thuế. Lý do được đưa ra là khoản vay Ngân hàng KEXIM cung cấp nhằm mục đích thương mại, do đó, không thực hiện chức năng có tính chất Chính phủ.

Ngân hàng KEXIM được thành lập theo Điều 1 của Đạo luật Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp nguồn tài chính cần thiết cho xuất nhập khẩu, đầu tư ngoài nước và phát triển nguồn tài nguyên tại nước ngoài. Cụ thể, theo Điều 18 của Luật này, các khoản vay được cung cấp nhằm thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tầm trung; đồng thời kích thích đầu tư – kinh doanh ngoài nước và phát triển nguồn tài nguyên tại nước ngoài.

Như vậy, dựa trên mục đích thành lập và hoạt động, và dựa trên nội dung được quy định rõ tại Khoản 4, Điều 11 của Hiệp định Thuế giữa hai nước, có thể hiểu rằng Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc “thực hiện các chức năng có tính chất Chính phủ như được quy định chi tiết và được thỏa thuận trong các công hàm trao đổi giữa các nhà chức trách có thẩm quyền của hai nước ký kết.”

Đại sứ quán kính đề nghị cơ quan thuế Việt Nam cung cấp các căn cứ cụ thể trong trường hợp cơ quan thuế phủ nhận thỏa thuận giữa các nhà chức trách có thẩm quyền của hai nước tại thời điểm ký kết Hiệp định Thuế và xác định khoản vay do Ngân hàng KEXIM cung cấp là phục vụ mục đích thương mại.

Đại sứ quán dự kiến sẽ chuyển các tiêu chí đánh giá của cơ quan thuế Việt Nam tới Bộ Kinh tế và Tài chính Hàn Quốc để xem xét và hướng dẫn các công ty Hàn Quốc về các trường hợp có thể bị xác định là khoản vay phục vụ mục đích thương mại.

Trả lời

Theo quy định tại Điều 11 Hiệp định thuế VN-Hàn Quốc, Điều V Nghị định thư thứ 2 sửa đổi và Điều 20 Thông tư số 205/2013/TT-BTC, thu nhập từ lãi tiền cho vay áp dụng đối với các đối tượng trực tiếp cho vay, trực tiếp nhận lãi từ tiền cho vay và đồng thời là đối tượng thực hưởng các khoản lãi từ tiền cho vay đó, không có quy định tài khoản của bên cho vay phải đặt tại nước cư trú của bên cho vay.

Căn cứ Khoản 3, khoản 4 Điều 11 Hiệp định thuế giữa Việt Nam – Hàn Quốc, ngoài ngân hàng trung ương, các cơ sở tài chính phải thực hiện chức năng Chính phủ thì mới đủ điều kiện xem xét miễn thuế theo Hiệp định.

Do đó, trường hợp Ngân hàng (KEXIM) cũng như các cơ sở tài chính khác thực hiện các hoạt động cho vay có tính chất thương mại thì khoản thu nhập từ hoạt động cho vay đó không thuộc đối tượng áp dụng miễn thuế theo quy định tại Điều 11 của Hiệp định.

Căn cứ các quy định và thông tin nêu trên, Cơ quan thuế Việt Nam sẽ xem xét, giải quyết hồ sơ đề nghị miễn thuế đối với thu nhập từ lãi tiền cho vay theo quy định của Hiệp định trên cơ sở hồ sơ và hoạt động cho vay thực tế giữa Bên cho vay và Bên vay.

Đối với trường hợp của Công ty Dong Ah Vina, Cục Thuế đang trong quá trình trao đổi quan điểm với Cơ quan thuế Hàn Quốc để làm rõ về nội dung và nguyên tắc áp dụng khoản vay thực hiện chức năng Chính phủ.

Câu 7

Tạm dừng hoàn thuế giá trị gia tăng mua hàng xuất nhập khẩu trong nước

  1. Cơ sở pháp lý và vướng mắc:

Điều 35, Khoản 1, Điều C Nghị định thi hành số 08/2015/ND-CP Xuất nhập khẩu

b. Câu hỏi:

1. Khó khăn: Các công ty đang gặp khó khăn trong việc quản lý vốn từ việc  hoãn hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào (Từ tháng 03 năm 2024 đến hiện tại) do bỏ điểm C của Nghị định xuất nhập khẩu trong nước.

2. Câu hỏi: Theo công văn của Bộ Tài chính gửi UBND tỉnh Đồng Nai, cho rằng kho ngoại quan chỉ là nơi lưu giữ và việc xuất hàng vào Việt Nam không được coi là xuất nhập khẩu, trái với quan điểm của hải quan.

  1. Ý kiến đề xuất:

1. Nếu điều khoản đã xóa không thể khôi phục lại được thì chúng tôi yêu cầu thời điểm áp dụng xóa điểm C của Nghị định theo ngày hiệu lực thi hành được công bố trước đó.

2. Ngoài ra, chúng tôi yêu cầu tiếp tục hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đang chờ xử lý trước đây càng sớm càng tốt.

Trả lời

1. Về chính sách thuế GTGT đối với hoạt động xuất khẩu tại chỗ

a) Từ ngày 01/7/2025, thực hiện theo quy định tại Điều 4 Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 181/2025/NĐ-CP và Thông tư số 69/2025/TT-BTC, hàng hóa xuất khẩu tại chỗ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 0%. Do đó, trường hợp CSKD có hàng hóa xuất khẩu tại chỗ theo quy định và đáp ứng các điều kiện về khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu gồm hợp đồng, tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và hóa đơn bán hàng hóa) thì được xem xét, giải quyết hoàn thuế theo quy định.

b) Đối với các hồ sơ hoàn thuế trước 01/7/2025, căn cứ hướng dẫn tại Điều 9 và Điều 17 Thông tư số 219/2013/TT-BTC về thuế suất 0% và điều kiện khấu trừ, hoàn thuế, căn cứ quy định tại Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP về thủ tục hải quan đối với xuất khẩu tại chỗ, Thông tư số 38/2015/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan thì một trong các điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế là tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ đã làm xong thủ tục hải quan.

Trường hợp Cơ quan hải quan xác định việc doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu tại chỗ không đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP (không đáp ứng hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức ở nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam) thì Cơ quan thuế không giải quyết hoàn thuế do không đáp ứng điều kiện về tờ khai hải quan theo quy định.

Trong quá trình ban hành các công văn hướng dẫn, Tổng cục Thuế (Cục Thuế) đã phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Hải quan/Cục Hải quan. Trên cơ sở ý kiến của Tổng cục Hải quan tại công văn số 4694/TCHQ-GSQL về việc Tổng cục Hải quan sẽ chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phối hợp với Cục Thuế địa phương trong việc xác định, xác minh tính hợp lệ của Tờ khai hải quan, Cục Thuế có công văn số 758/CT-CS đề nghị Cục Hải quan có văn bản chỉ đạo các Chi cục Hải quan địa phương phối hợp với cơ quan thuế trong việc giải quyết hoàn thuế đối với hoạt động XNKTC.

2. Về việc xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT:

Căn cứ thẩm quyền quyết định hoàn thuế tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Luật số 56/2024/QH14, Trưởng Thuế tỉnh, thành phố xem xét ban hành quyết định hoàn thuế đối với trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế và trên cơ sở hồ sơ, thủ tục theo pháp luật về quản lý thuế.

Câu 8

Nội dung vướng mắc:

1. Tình trạng chậm hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ

Vào khoảng tháng 5/2023, căn cứ Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thuế đã ban hành văn bản hướng dẫn giải thích pháp luật theo đó “xuất nhập khẩu tại chỗ không được coi là hoạt động xuất khẩu”, dẫn đến việc tạm ngừng giải quyết hồ sơ hoàn thuế GTGT đầu vào. Sau đó, đến kỳ tính thuế tháng 2 hoặc tháng 5/2024, việc hoàn thuế tạm thời được nối lại. Tuy nhiên, ngay sau đó, Tổng cục Thuế tiếp tục khẳng định quan điểm “xuất khẩu tại chỗ không phải là xuất khẩu”, khiến việc giải quyết hoàn thuế tiếp tục bị đình chỉ.

Mặc dù Tổng cục Hải quan đã chính thức công bố công nhận “xuất nhập khẩu tại chỗ” là một hình thức xuất khẩu theo quy định pháp luật hải quan, nhưng Tổng cục Thuế vẫn chưa thừa nhận, dẫn đến thực tế nhiều doanh nghiệp sản xuất trung gian như Công ty Young Woo VINA tại Bình Dương và Công ty Global Dyeing và Dong Jin Textile VINA, JungWoo VINA, SamIl VINA tại Đồng Nai..v.v… kể từ tháng 3/2024 đến nay (hơn một năm), chưa được giải quyết hoàn thuế GTGT đầu vào.

Ngày 01/7/2024, Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật sửa đổi, bổ sung, theo đó quy định rõ ràng rằng “xuất nhập khẩu tại chỗ” được coi là hoạt động xuất khẩu. Như vậy, về mặt pháp lý, doanh nghiệp đã có cơ sở để được hoàn thuế. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan thuế địa phương vẫn từ chối giải quyết hoàn thuế GTGT phát sinh từ kỳ tháng 7 trở đi. Lý do được viện dẫn là: “Các hồ sơ hoàn thuế còn tồn đọng từ trước phải được xử lý dứt điểm thì mới có căn cứ giải quyết hoàn thuế cho kỳ tháng 7 và các kỳ tiếp theo”. Đồng thời, cơ quan thuế cho biết hiện chưa có văn bản chỉ đạo chính thức từ Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.

2. Kết luận và kiến nghị

Mặc dù Luật sửa đổi đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2024, quy định rõ ràng rằng “xuất nhập khẩu tại chỗ” được coi là hoạt động xuất khẩu, nhưng đến nay, không chỉ các khoản thuế GTGT đầu vào phát sinh từ năm 2024 mà ngay cả khoản hoàn thuế sau ngày Luật có hiệu lực cũng chưa được cơ quan thuế thực hiện. Đây là tình trạng chung mà hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trung gian có hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ đang gặp phải.

Do đó, chúng tôi trân trọng đề nghị các cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việc hoàn thuế GTGT được triển khai kịp thời. Đặc biệt, cần khẩn trương giải quyết các hồ sơ hoàn thuế còn tồn đọng trước đây, đồng thời thực hiện hoàn thuế cho các khoản phát sinh sau khi Luật sửa đổi có hiệu lực, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng và hợp pháp của doanh nghiệp.

Trả lời

1. Về chính sách thuế GTGT đối với hoạt động xuất khẩu tại chỗ

a) Từ ngày 01/7/2025, thực hiện theo quy định tại Điều 4 Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 181/2025/NĐ-CP và Thông tư số 69/2025/TT-BTC, hàng hóa xuất khẩu tại chỗ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 0%. Do đó, trường hợp CSKD có hàng hóa xuất khẩu tại chỗ theo quy định và đáp ứng các điều kiện về khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu gồm hợp đồng, tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và hóa đơn bán hàng hóa) thì được xem xét, giải quyết hoàn thuế theo quy định.

b) Đối với các hồ sơ hoàn thuế trước 01/7/2025, căn cứ hướng dẫn tại Điều 9 và Điều 17 Thông tư số 219/2013/TT-BTC về thuế suất 0% và điều kiện khấu trừ, hoàn thuế, căn cứ quy định tại Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP về thủ tục hải quan đối với xuất khẩu tại chỗ, Thông tư số 38/2015/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan thì một trong các điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế là tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ đã làm xong thủ tục hải quan.

Trường hợp Cơ quan hải quan xác định việc doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu tại chỗ không đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP (không đáp ứng hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức ở nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam) thì Cơ quan thuế không giải quyết hoàn thuế do không đáp ứng điều kiện về tờ khai hải quan theo quy định.

Trong quá trình ban hành các công văn hướng dẫn, Tổng cục Thuế (Cục Thuế) đã phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Hải quan/Cục Hải quan. Trên cơ sở ý kiến của Tổng cục Hải quan tại công văn số 4694/TCHQ-GSQL về việc Tổng cục Hải quan sẽ chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phối hợp với Cục Thuế địa phương trong việc xác định, xác minh tính hợp lệ của Tờ khai hải quan, Cục Thuế có công văn số 758/CT-CS đề nghị Cục Hải quan có văn bản chỉ đạo các Chi cục Hải quan địa phương phối hợp với cơ quan thuế trong việc giải quyết hoàn thuế đối với hoạt động XNKTC.

2. Về việc xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT:

Căn cứ thẩm quyền quyết định hoàn thuế tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Luật số 56/2024/QH14, Trưởng Thuế tỉnh, thành phố xem xét ban hành quyết định hoàn thuế đối với trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế và trên cơ sở hồ sơ, thủ tục theo pháp luật về quản lý thuế.

Câu 9

Nội dung vướng mắc:

Tạm dừng hoàn thuế GTGT do Cục Thuế không công nhận hàng xuất khẩu sau khi xuất khẩu nội địa

a. Cơ sở pháp lý và vướng mắc:

Nghị định 167/2025/NĐ-CP ban hành (Bãi bỏ Khoản 1, Mục C của Nghị định 08/2015/NĐ-CP, “Thương nhân nước ngoài có hiện diện Việt Nam”)

b. Câu hỏi:

Chúng tôi đang chờ hướng dẫn chính thức về việc liệu luật liên quan, trong đó bãi bỏ quy định “Thương nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam”, có áp dụng cho các giao dịch xuất khẩu nội địa được thực hiện trước tháng 7 năm 2025 hay không. Quý cơ quan có đang chuẩn bị thủ tục nào cho hướng dẫn này không?

Giả sử nếu không được hồi tố thì những lô hàng đã được xuất nhập khẩu tại chỗ trước tháng 7/2025 và không được hoàn thuế GTGT, doanh nghiệp sẽ phải chuẩn bị những gì?

c. Kiến nghị:

Khi nộp đơn xin hoàn thuế GTGT, cơ quan Thuế sẽ kiểm tra trạng thái thanh toán VAT đầu vào, đủ điều kiện mới được hoàn thuế, vì thế chúng tôi kiến nghị xem xét việc công nhận xuất khẩu nếu chứng minh được nguồn tiền bán hàng được thanh toán là ngoại tệ.

Lý do là vì xuất khẩu thường nhằm mục đích thu ngoại tệ.

Trả lời

1. Về chính sách thuế GTGT đối với hoạt động xuất khẩu tại chỗ

a) Từ ngày 01/7/2025, thực hiện theo quy định tại Điều 4 Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 181/2025/NĐ-CP và Thông tư số 69/2025/TT-BTC, hàng hóa xuất khẩu tại chỗ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 0%. Do đó, trường hợp CSKD có hàng hóa xuất khẩu tại chỗ theo quy định và đáp ứng các điều kiện về khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu gồm hợp đồng, tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và hóa đơn bán hàng hóa) thì được xem xét, giải quyết hoàn thuế theo quy định.

b) Đối với các hồ sơ hoàn thuế trước 01/7/2025, căn cứ hướng dẫn tại Điều 9 và Điều 17 Thông tư số 219/2013/TT-BTC về thuế suất 0% và điều kiện khấu trừ, hoàn thuế, căn cứ quy định tại Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP về thủ tục hải quan đối với xuất khẩu tại chỗ, Thông tư số 38/2015/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan thì một trong các điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế là tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ đã làm xong thủ tục hải quan.

Trường hợp Cơ quan hải quan xác định việc doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu tại chỗ không đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP (không đáp ứng hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức ở nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam) thì Cơ quan thuế không giải quyết hoàn thuế do không đáp ứng điều kiện về tờ khai hải quan theo quy định.

Trong quá trình ban hành các công văn hướng dẫn, Tổng cục Thuế (Cục Thuế) đã phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Hải quan/Cục Hải quan. Trên cơ sở ý kiến của Tổng cục Hải quan tại công văn số 4694/TCHQ-GSQL về việc Tổng cục Hải quan sẽ chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phối hợp với Cục Thuế địa phương trong việc xác định, xác minh tính hợp lệ của Tờ khai hải quan, Cục Thuế có công văn số 758/CT-CS đề nghị Cục Hải quan có văn bản chỉ đạo các Chi cục Hải quan địa phương phối hợp với cơ quan thuế trong việc giải quyết hoàn thuế đối với hoạt động XNKTC.

2. Về việc xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT:

Căn cứ thẩm quyền quyết định hoàn thuế tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Luật số 56/2024/QH14, Trưởng Thuế tỉnh, thành phố xem xét ban hành quyết định hoàn thuế đối với trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế và trên cơ sở hồ sơ, thủ tục theo pháp luật về quản lý thuế.

Câu 10

Nội dung vướng mắc:

 1. Vấn đề hoàn thuế nhập khẩu theo hợp đồng xuất nhập khẩu nội địa

  • Vấn đề này liên quan đến:
    • Luật Hải quan được sửa đổi bởi Nghị định số 167/2025/NĐ-CP và Nghị định số 08/2015/NĐ-CP,
    • Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi Luật Hải quan số 54/2014/QH13.
  • Trường hợp của công ty HVS: Dù đã khai báo hải quan cho nguyên vật liệu nhập khẩu theo hợp đồng sản xuất tại Việt Nam trước ngày 1 tháng 7 năm 2025, công ty vẫn không được hoàn thuế.
    • Điều này xảy ra dù toàn bộ nguyên vật liệu được sử dụng cho việc đóng tàu và toàn bộ tàu đã được xuất khẩu 100%.
  • Cơ quan hải quan phán đoán rằng trong tờ khai hải quan nhập khẩu có yếu tố của thương nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam.
  • Tuy nhiên, theo luật hải quan sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 (Luật số 90/2025/QH15), các doanh nghiệp nước ngoài được phép xuất nhập khẩu tại Việt Nam, bất kể có cư trú hay không.

Vì vậy, đề nghị xem xét để có thể áp dụng hồi tố cho giai đoạn trước ngày 1 tháng 7 năm 2025.

Điều này sẽ giúp tháo gỡ khó khăn mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải trong hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam năm 2025.

2. Vấn đề liên quan đến khai báo hóa chất nhập khẩu

  • Vấn đề này liên quan đến:
    • Nghị định số 82/2022/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 113/2017/NĐ-CP về quản lý hóa chất,
    • Và Nghị định số 17/2022/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 71/2019/NĐ-CP.
  • Hiện tại, việc khai báo hóa chất nhập khẩu được thực hiện thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.
  • Cơ quan hải quan đang dựa vào Điều 18 Khoản 1 của Nghị định 128/2020/NĐ-CP để xử phạt hành vi không khai báo trước ngày 31 tháng 1 năm 2022.

Tuy nhiên, theo quy định hiện hành:

  1. Không có quy định rõ ràng về việc xử phạt hành vi không khai báo phát sinh trước ngày 31/01/2022.
  2. Không có tiêu chí cụ thể để xác định hành vi vi phạm:
    • Không rõ nên tính theo số lần không khai báo, hay theo số loại và số lượng hóa chất không khai báo.

 Những điều này đang gây ra sự lúng túng và khó khăn cho các doanh nghiệp tại hiện trường.

  • Trước tiên, với các trường hợp nhập khẩu hóa chất trước ngày 31/01/2022 mà không khai báo qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, thì:
    • Không bị xử phạt hành chính hoặc áp dụng biện pháp điều chỉnh hậu kiểm.
    • Điều này theo hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 8 của Nghị định Chính phủ NĐ-CP năm 2021 về xử lý vi phạm hành chính.
  • Một điểm quan trọng khác là:

➤ Tiêu chí để xác định số lượng hành vi vi phạm là dựa trên số loại hóa chất chưa khai báo,

➤ Không dựa trên số lượng các tờ khai riêng lẻ.

 Kính đề nghị xem xét để việc áp dụng phù hợp với hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính đã nêu.

Trả lời

(1) Về chính sách thuế GTGT đối với hoạt động xuất khẩu tại chỗ

a) Từ ngày 01/7/2025, thực hiện theo quy định tại Điều 4 Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 181/2025/NĐ-CP và Thông tư số 69/2025/TT-BTC, hàng hóa xuất khẩu tại chỗ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 0%. Do đó, trường hợp CSKD có hàng hóa xuất khẩu tại chỗ theo quy định và đáp ứng các điều kiện về khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu gồm hợp đồng, tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và hóa đơn bán hàng hóa) thì được xem xét, giải quyết hoàn thuế theo quy định.

b) Đối với các hồ sơ hoàn thuế trước 01/7/2025, căn cứ hướng dẫn tại Điều 9 và Điều 17 Thông tư số 219/2013/TT-BTC về thuế suất 0% và điều kiện khấu trừ, hoàn thuế, căn cứ quy định tại Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP về thủ tục hải quan đối với xuất khẩu tại chỗ, Thông tư số 38/2015/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan thì một trong các điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế là tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ đã làm xong thủ tục hải quan.

Trường hợp Cơ quan hải quan xác định việc doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu tại chỗ không đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP (không đáp ứng hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức ở nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam) thì Cơ quan thuế không giải quyết hoàn thuế do không đáp ứng điều kiện về tờ khai hải quan theo quy định.

Trong quá trình ban hành các công văn hướng dẫn, Tổng cục Thuế (Cục Thuế) đã phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Hải quan/Cục Hải quan. Trên cơ sở ý kiến của Tổng cục Hải quan tại công văn số 4694/TCHQ-GSQL về việc Tổng cục Hải quan sẽ chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phối hợp với Cục Thuế địa phương trong việc xác định, xác minh tính hợp lệ của Tờ khai hải quan, Cục Thuế có công văn số 758/CT-CS đề nghị Cục Hải quan có văn bản chỉ đạo các Chi cục Hải quan địa phương phối hợp với cơ quan thuế trong việc giải quyết hoàn thuế đối với hoạt động XNKTC.

(2) Về việc xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT:

               Căn cứ thẩm quyền quyết định hoàn thuế tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Luật số 56/2024/QH14, Trưởng Thuế tỉnh, thành phố xem xét ban hành quyết định hoàn thuế đối với trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế và trên cơ sở hồ sơ, thủ tục theo pháp luật về quản lý thuế.

Câu 11

Tình hình ban hành Nghị định thi hành Thuế tối thiểu toàn cầu, hướng dẫn về thủ tục khai báo và nộp Thuế tối thiểu bổ sung nội địa đạt chuẩn (QDMTT).

Trả lời:

Ngày 29/8/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 236/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu.

Đồng thời ngày 15/01/2025, Cục Thuế đã có công văn số 4441/CT-DNL gửi Thuế các tỉnh, thành phố giới thiệu một số nội dung tại Nghị định số 236/2025/NĐ-CP, công văn số 4489/CT-DNL ngày 17/10/2025 gửi Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài và các Công ty kiểm toán Big4 giới thiệu một số nội dung tại Nghị định số 236/2025/NĐ-CP.

               Hiện nay, Cục Thuế đã xây dựng Cổng để cho các doanh nghiệp thuộc diện áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu thực hiện chỉ định, đăng ký, kê khai, nộp thuế TNDN bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu.

Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2025: Nội dung trả lời câu hỏi Hội nghị (Phần III)

Ngày 30/09/2025

Câu 12

Thực trạng bổ nhiệm nhà chức trách có thẩm quyền (CA) theo các Hiệp định thuế.

  1. Cơ sở pháp lý và vướng mắc

Kim ngạch thương mại song phương gia tăng, đồng thời, ngày càng có nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam khiến cho khả năng phát sinh trường hợp bị đánh thuế 2 lần cũng tăng cao. Việc phòng tránh và giải quyết kịp thời tình trạng đánh thuế 2 lần là yếu tố tăng cường tính chắc chắn về thuế và tác động tích cực đến khả năng cạnh tranh đầu tư của Việt Nam.

Điều 25 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa hai nước quy định về thủ tục tỏa thuận song phương giữa Nhà chức trách có thẩm quyền (Competent Authority) của hai nước nhằm giải quyết các quyết định đánh thuế chưa phù hợp với hiệp định, tháo gỡ các khó khăn liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các quy định của hiệp định. Thủ tục thỏa thuận song phương chủ yếu bao gồm 3 loại hình: (1) giải thích hoặc áp dụng hiệp định, (2) quyết định đánh thuế hoặc khả năng bị đánh thuế, (3) thỏa thuận trước về giá tính thuế.

Việc thay đổi cơ cấu Bộ Tài chính năm 2025 dự kiến sẽ dẫn đến sự thay đổi về các Cục, Vụ, Ban, Ngành và Cơ quan thẩm quyền.

  1. Ý kiến đề xuất:

Để đảm bảo Người nộp thuế có thể tiếp cận dễ dàng các thủ tục thỏa thuận song phương khi cần thiết, đề nghị Cục Thuế, Bộ Tài chính chia sẻ về các Ban ngành hoặc Cơ quan chịu trách nhiệm về 3 loại hình của thủ tục thỏa thuận song phương trên sau khi bộ máy được sắp xếp lại. Nếu Cục Thuế, Bộ Tài chính chưa có chỉ định nhà chức trách có thẩm quyền, vui lòng chia sẻ kế hoạch (thời điểm) chỉ định trong tương lai.

Trả lời

                Sau khi sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy ngành Thuế, cơ quan Thuế Việt Nam đã có thư gửi Nhà chức trách có thẩm quyền (CA) của cơ quan thuế các quốc gia, vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam, trong đó có Hàn Quốc (thư số 803/CT-CS ngày 23/4/2025), thông báo về danh sách nhà chức có thẩm quyền của cơ quan thuế Việt Nam hiện nay, đồng thời cung cấp thông tin về đầu mối liên hệ của cơ quan thuế Việt Nam tại các Diễn đàn toàn cầu về trao đổi thông tin (GF), Diễn đàn hợp tác thực hiện BEPS (IF) … nhằm tạo thuận lợi trong việc liên lạc/trao đổi giữa các CA thành viên và trong các hoạt động của GF, IF…

                Chi tiết thông tin về các nhà chức trách có thẩm quyền của cơ quan thuế Việt Nam hiện nay như sau:

  1. Ông Mai Xuân Thành – Cục trưởng – Phụ trách các vấn đề chung
  2. Ông Đặng Ngọc Minh – Phó Cục trưởng – Phụ trách các vấn đề chung
  3. Ông Vũ Mạnh Cường – Phó Cục trưởng – Phụ trách các vấn đề chung
  4. Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng – Trưởng Ban Ban Chính sách, thuế quốc tế – Phụ trách vấn đề giải thích các quy định của Hiệp định; đàm phán MAP, APA
  5. Bà Nguyễn Thu Trà – Trưởng Ban Ban Quản lý tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế – Phụ trách các vấn đề liên quan đến trao đổi thông tin.

Câu 13

Vấn đề hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT) của iMarket Việt Nam (IMV)

a. Quy định hiện hành:

Sau khi được thành lập vào năm 2013, công ty TNHH IMARKET VIETNAM thường xuyên nộp hồ sơ xin hoàn thuế VAT đầu vào đối với hàng hóa mua từ nhà cung cấp nội địa tại Việt Nam (hàng hóa có thể là sản xuất tại Việt Nam hoặc nhà cung cấp nhập khẩu từ nước ngoài) và bán cho các doanh nghiệp chế xuất (ví dụ: Samsung) theo hình thức xuất khẩu nội địa và đã nhận được khoản hoàn thuế tương ứng (tính đến tháng 6 năm 2016).

– Tuy nhiên, sau khi Nghị định 100/2016/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam có hiệu lực, công ty đã bị tồn đọng khoản thuế VAT không được hoàn với tổng giá trị lũy kế là 58,2 tỷ VND

(phát sinh trong khoảng thời gian từ 01/07/2016 đến trước 01/02/2018).

∙ Mục đích sửa đổi

→  Nhằm ngăn chặn hành vi gian lận hoàn thuế, cũng như ngăn việc lợi dụng gắn mác “sản xuất tại Việt Nam” (Made in Vietnam) để xuất khẩu hàng hóa có xuất xứ khác, tránh gian lận về xuất xứ hàng hóa (theo Quốc hội Việt Nam).

∙  Nội dung quy định

“Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn”

※ Căn cứ tại điểm 3, khoản 6, Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP  (công bố ngày 01/7/2016)

※ Căn cứ tại mục b, điểm 4, khoản 3, Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC (Bộ Tài Chính ban hành ngày 12/8/2016)

→ “Mặc dù IMV xuất khẩu các mặt hàng mua từ nội địa, quy định trên vẫn áp dụng vì tiêu chí xét là xuất xứ hàng hóa; nếu nhà cung cấp của IMV là đơn vị nhập khẩu, hàng hóa đó vẫn bị xem là hàng nhập khẩu.”

→ Theo các quy định ở trên, đối với các hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu, cơ sở kinh doanh không thể hoàn thuế GTGT trong thời gian nói trên  mà chỉ được khấu trừ (deduct) thuế GTGT.

※ Tuy nhiên trong Luật không có hướng dẫn cụ thể đổi với trường hợp các doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu hàng hóa, bán rất ít cho các khách nội địa và do đó không có thuế GTGT đầu ra để khấu trừ.

–  Kể từ ngày 1/2/2018, căn cứ tại khoản 2, Điều 1 Nghị định số 146/2017/NĐ-CP quy định việc hoàn thuế VAT với hàng hóa nhập khẩu được khôi phục trở lại và được áp dụng cho đến nay (tháng 4 năm 2025).

∙  Nội dung quy định

“…Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài, có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khẩu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý…”

– “Mục a, khoản 1, Điều 15 tại Luật sửa đổi thuế năm 2024 có quy định: “Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý, trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác”. Tuy nhiên, vấn đề hoàn thuế của IMV không thuộc diện “xuất khẩu sang nước khác” mà là xuất khẩu nội địa cho doanh nghiệp chế xuất (EPE) như các Công ty thuộc Tập đoàn Samsung nên quy định loại trừ này không áp dụng cho IMV.”

b. Khó khăn hiện tại

– Do thay đổi trong quy định pháp luật của Việt Nam về phương thức xử lý thuế VAT (từ hoàn thuế sang khấu trừ) giai đoạn 1/7/2016-trước 1/2/2018, số tiền 58,2 tỷ VND đáng lẽ được hoàn lại bị phân loại là tài sản được khấu trừ thuế, điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến dòng tiền của doanh nghiệp.

– Để đảm bảo vốn lưu động cho hoạt động, IMV đã phải vay 5 triệu USD từ trụ sở chính iMarket Korea tại Hàn Quốc, đồng thời vay thêm từ ngân hàng trong nước tại Việt Nam, dẫn đến chi phí lãi vay hằng năm vượt quá 400.000 USD.

– “Mặc dù cơ cấu khách hàng và doanh thu của IMV bao gồm 1) xuất khẩu nội địa cho doanh nghiệp chế xuất (ví dụ: Samsung), 2) doanh thu tiêu thụ nội địa (Non-EPE), 3) xuất khẩu ra nước ngoài (ngoài lãnh thổ Việt Nam). Nhưng doanh thu xuất khẩu nội địa cho khách hàng chế xuất chiếm trên 80%, nên liên tục phát sinh số tiền VAT cần hoàn. Do đó, với hình thức khấu trừ, việc thực hiện khấu trừ với 58,2 tỷ đồng là không khả thi trên thực tế do tỷ lệ doanh thu tiêu thụ nội địa rất thấp.”

c. Kiến nghị cải thiện

– Mục tiêu thành lập và định hướng kinh doanh của công ty là hỗ trợ hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam thông qua việc cung cấp kịp thời vật tư và dịch vụ chất lượng cao. Trong đó, hoạt động cung cấp cho các doanh nghiệp chế xuất là chủ yếu, đây cũng là định hướng hoạt động xuyên suốt đến hiện tại.

– Cụ thể, các doanh nghiệp như Samsung và các nhà đầu tư nước ngoài đang sử dụng thiết bị và vật tư do IMV cung cấp để sản xuất điện thoại và các sản phẩm điện tử phục vụ xuất khẩu, qua đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng GDP của Việt Nam.

– Kể từ khi thành lập vào năm 2013, IMV luôn tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, chưa từng có hành vi gian lận thuế, hay giả mạo xuất xứ hàng hóa – những vấn đề được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm – và luôn hoạt động minh bạch như một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mẫu mực, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

– Do đặc thù hoạt động kinh doanh tập trung vào các doanh nghiệp chế xuất, hình thức khấu trừ thuế hiện tại (58 tỷ VND VAT có nguồn gốc nhập khẩu) gây ra nhiều sự khó khăn cho doanh nghiệp. Vì vậy, chúng tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét hoàn thuế đối với số tiền 58,2 tỷ đồng đang tồn đọng, từ đó giúp cải thiện dòng tiền của IMV, tiếp tục mở rộng hoạt động, và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam.

Trả lời

Về hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu, từ ngày 01/7/2016 đến trước ngày 01/02/2018, theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ thì “Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật hải quan và các văn bản hướng dẫn.”

Như vậy, theo quy định nêu trên, số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu trong giai đoạn từ ngày 01/7/2016 đến trước ngày 01/02/2018 không thuộc trường hợp được hoàn thuế.

Câu 14

Nội dung vướng mắc:

Quy định liên quan đến thuế GTGT hàng xuất khẩu có điểm giao hàng trong kho ngoại quan

a. Cơ sở pháp lý và vướng mắc:

Khoản 1 Điều 28 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 định nghĩa “xuất khẩu hàng hóa”;

Khoản 4 Điều 3 Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 quy định về khu vực hải quan riêng;

Khoản 1 Điều 6 Quyết định 100/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động khu phi thuế quan và khu kinh tế;

Khoản 20 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC được bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC quy định các đối tượng có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với lãnh thổ còn lại;

Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 hướng dẫn Luật thuế Giá trị gia tăng (2008) và Luật thuế Giá trị gia tăng sửa đổi (2013) quy định thuế suất 0% áp dụng;

Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn phạm vi áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu;

Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn điều kiện áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu.

b. Vướng mắc của doanh nghiệp:

Liên quan đến thuế GTGT hàng xuất khẩu có điểm giao hàng trong kho ngoại quan:

Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã có Công văn số 913/UBND-KTNS ngày 24/01/2025 gửi Bộ Tài chính đề nghị hướng dẫn vướng mắc hoàn thuế GTGT;

Cục thuế tỉnh Đồng Nai đã có Công văn số 8958/CTDON-KKKTT ngày 10/10/2024 về chính sách thuế GTGT đối với hàng hóa hàng hóa nội địa đưa vào kho ngoại quan;

Bộ Tài Chính đã ban hành Công văn số 1872/BTC-TCT ngày 17/02/2025  gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai có ý kiến về nguyên tắc chính sách thuế GTGT.

Công ty Cổ phần Trung tâm gia công Posco Việt Nam (“POSCO PVPC”) đã có Công văn số PVPC/CV-20250725 ngày 25/07/2025 gửi Bộ Tài chính đề nghị hướng dẫn về thuế GTGT hàng xuất khẩu có điểm giao hàng trong kho ngoại quan;

Thuế tỉnh Đồng Nai đã có Công văn số 3240/DON-QLDN1 ngày 12/09/2025 gửi Công ty Cổ phần Trung tâm gia công Posco Việt Nam hướng dẫn về chính sách thuế GTGT.

Theo nội dung được đề cập tại các Công văn trên, Công ty hiểu rằng:

Bộ Tài chính có ý kiến về nguyên tắc: Trường hợp  doanh nghiệp nội địa bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và được chỉ định giao hàng cho bên thứ ba là doanh nghiệp Việt Nam thông qua kho ngoại quan không đáp ứng được điều kiện hàng hóa xuất khẩu bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, hàng hóa bán cho tổ chức, cá nhân trong khi phi thuế quan và tiêu dùng trong khu phi thuế quan nên không thuộc trường hợp hàng hóa xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.

Thuế tỉnh Đồng Nai đang cho rằng: Trước thời điểm 01/7/2025, trường hợp POSCO PVPC bán hàng cho thương nhân nước ngoài chỉ định giao hàng thông qua kho ngoại quan (nằm trong lãnh thổ Việt Nam), trường hợp hàng hóa này đáp ứng được điều kiện là hàng hóa xuất khẩu bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ngoài Việt Nam thì mới thuộc trường hợp hàng hóa xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.

c. Quan điểm của Công ty:

Dựa trên mô tả chi tiết giao dịch xuất khẩu của POSCO PVPC: Giao dịch giữa POSCO PVPC và Bên mua là giao dịch mua đứt bán đoạn, toàn bộ rủi ro và quyền sở hữu hàng hóa đã được Công ty chuyển giao cho Bên mua tại thời điểm chủ kho ngoại quan xác nhận hàng hóa vào kho. Trong giao dịch này POSCO PVPC chỉ chịu trách nhiệm giao hàng cho chính Bên mua là thương nhân nước ngoài, địa điểm giao hàng nằm trong kho ngoại quan do thương nhân đó hoặc người đại diện ký hợp đồng thuê, không có yếu tố chỉ định giao hàng cho bất kỳ bên thứ ba nào khác ở Việt Nam. Như vậy, trường hợp đề cập trong Công văn số 1872/BTC-TCT, cụ thể là: “Trường hợp doanh nghiệp nội địa bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và được chỉ định giao hàng cho bên thứ ba là doanh nghiệp Việt Nam thông qua kho ngoại quan…” và tình huống giao dịch của POSCO PVPC là khác nhau về mặt bản chất.

Nguyên tắc xuyên suốt của pháp luật về thương mại, pháp luật quản lý ngoại thương, quy định về các khu phi thuế quan và quy định thuế GTGT hiện hành đều công nhận việc đưa hàng hóa từ nội địa Việt Nam vào các khu phi thuế quan, trong đó có kho ngoại quan, là hoạt động xuất khẩu. Giao dịch bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài và giao hàng vào kho ngoại quan của POSCO PVPC, theo đó, phải được công nhận và đối xử là một hoạt động xuất khẩu hợp pháp, hợp lệ theo nghĩa đầy đủ nhất. Cụ thể:

Khoản 1 Điều 28 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 định nghĩa: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.”

Khoản 4 Điều 3 Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 quy định về khu vực hải quan riêng: “Khu vực hải quan riêng là khu vực địa lý xác định trên lãnh thổ Việt Nam được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với phần lãnh thổ còn lại và nước ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.”

Khoản 1 Điều 6 Quyết định 100/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động khu phi thuế quan và khu kinh tế quy định: “Quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa khu phi thuế quan với nội địa là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu theo các quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế và xuất khẩu, nhập khẩu.”

Khoản 20 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC được bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC quy định các đối tượng có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với lãnh thổ còn lại: “Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập và được hưởng các ưu đãi về thuế như khu phi thuế quan theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa các khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.”

Giao dịch bán hàng vào kho ngoại quan của Công ty phù hợp với quy định về hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất GTGT 0% tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 209/2013/NĐ-CP và khoản 1 Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC, cụ thể:

Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 hướng dẫn Luật thuế Giá trị gia tăng (2008) và Luật thuế Giá trị gia tăng sửa đổi (2013) quy định thuế suất 0% áp dụng như sau: “a) Đối với hàng hóa xuất khẩu bao gồm: Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, bán vào khu phi thuế quan; công trình xây dựng, lắp đặt ở nước ngoài, trong khu phi thuế quan; hàng hóa bán mà điểm giao, nhận hàng hóa ở ngoài Việt Nam; phụ tùng, vật tư thay thế để sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện, máy móc thiết bị cho bên nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; xuất khẩu tại chỗ và các trường hợp khác được coi là xuất khẩu theo quy định của pháp luật.”

Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn phạm vi áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu như sau:

“Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật.”

Hàng hóa xuất khẩu bao gồm:

– Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, kể cả ủy thác xuất khẩu;

– Hàng hóa bán vào khu phi thuế quan theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; hàng bán cho cửa hàng miễn thuế;

Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn điều kiện áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu bao gồm:

“a) Đối với hàng hóa xuất khẩu:

– Có hợp đồng bán, gia công hàng hóa xuất khẩu; hợp đồng ủy thác xuất khẩu;

– Có chứng từ thanh toán tiền hàng hóa xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật;

– Có tờ khai hải quan theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Thông tư này.”

Tiêu chí tiêu dùng trong khu phi thuế quan được đặt ra kể từ Luật thuế GTGT sửa đổi (2013): “Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu là hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính phủ.”

Theo quy định hiện hành tại khoản 3 Điều 83 Nghị định 08/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hải quan, thương nhân được phép chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan. Về mặt pháp lý, đây được xem là hành động hiện thực hóa quyền sở hữu, định đoạt đối với hàng hóa của thương nhân đang gửi hàng trong kho, nói cách khác là “sử dụng” hàng hóa đó cho mục đích thương mại. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng cơ quan quản lý thuế hiện gặp khó khăn khi xác định việc định đoạt, sử dụng hàng hóa để chuyển quyền sở hữu như vậy có được xem là tiêu dùng trong khu phi thuế quan hay không. Dẫu vậy, xét đến bản chất quá trình này tự nó đã tạo ra giá trị gia tăng và giá trị tăng thêm được bao gồm trong giá tính thuế GTGT khi nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước (trong trường hợp thương nhân nước ngoài bán vào nội địa), Chúng tôi cho rằng cần thiết phải có những hướng dẫn chính thức từ phía Bộ Tài chính để xác nhận trường hợp như vậy đáp ứng tiêu chí về tiêu dùng trong khu phi thuế quan, đảm bảo nhìn nhận đúng bản chất kinh tế của giao dịch.

Trường hợp thương nhân nước ngoài mua hàng của POSCO PVPC để lưu trữ trong kho ngoại quan (giao dịch thứ nhất), sau đó tìm được người mua và bán lại hàng hóa vào thị trường nội địa (giao dịch thứ hai) thì theo quy định về hải quan và pháp luật thuế GTGT, bên mua hàng là doanh nghiệp nội địa phải mở tờ khai nhập khẩu và nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu vào Ngân sách Nhà nước. Việc bên mua nộp thuế GTGT vào Ngân sách như vậy đã phản ánh đúng vị thế pháp lý của bên bán (thương nhân nước ngoài) không phải là đối tượng nộp thuế GTGT tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nay diễn giải việc thương nhân nước ngoài bán hàng vào nội địa khiến giao dịch xuất khẩu trước đó của POSCO PVPC bị hồi tố không được áp dụng thuế suất GTGT 0%, đồng nghĩa cho rằng thương nhân nước ngoài phải trả thêm thuế GTGT trên hàng hóa mua từ nội địa, tức khiến họ bỗng nhiên lại trở thành đối tượng nộp thuế tại Việt Nam. Hệ quả trực tiếp là cả thương nhân nước ngoài và doanh nghiệp mua hàng nội địa đều phải chịu chi phí thuế GTGT như người tiêu dùng cuối cùng, tức thuế GTGT được tính hai lần trên một đối tượng hàng hóa. Theo chúng tôi, đây là cách diễn giải mâu thuẫn và nhầm lẫn về bản chất gián thu của thuế GTGT bởi nếu trong giao dịch thứ nhất thương nhân nước ngoài phải trả thuế khi mua vào thì ở giao dịch thứ hai, bên mua nội địa sẽ phải thanh toán tiền thuế GTGT cùng với tiền hàng cho thương nhân đó thay vì nộp vào Ngân sách Nhà nước như đã nhắc trên.

Trường hợp việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan không được diễn giải là tiêu dùng trong khu phi thuế quan, theo đó hàng hóa xuất khẩu vào kho ngoại quan không được áp dụng thuế suất GTGT 0% sẽ dẫn đến thách thức rất lớn về pháp lý cho doanh nghiệp xuất khẩu như POSCO PVPC (và nhiều nhà xuất khẩu tương tự) do luôn đối mặt rủi ro chịu thêm chi phí thuế GTGT từ 8% đến 10% giá trị lô hàng trong khi hoàn toàn không có quyền chi phối, không kiểm soát được việc định đoạt hàng hóa của Bên mua bởi giao dịch đã hoàn tất và mọi rủi ro, quyền lợi đã chuyển giao từ thời điểm Công ty đưa hàng vào kho. Cách diễn giải như vậy, nếu được áp dụng sẽ trái với nguyên tắc chung của kỹ thuật lập pháp vì tạo ra sự bất định về chính sách thuế tại thời điểm các bên hoàn tất giao dịch (xuất hàng vào kho ngoại quan) do nhà xuất khẩu không thể biết và không thể can thiệp vào hành vi kinh tế tiếp sau của bên mua hàng là thương nhân nước ngoài khi họ bán hàng hóa sang nước khác hay xuất vào nội địa.

Tham chiếu đến trường hợp tương tự khi doanh nghiệp nội địa xuất khẩu hàng hóa cho doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp nội địa đã làm thủ tục hải quan và xuất hóa đơn GTGT 0% nhưng sau đó doanh nghiệp chế xuất thay đổi mục đích sử dụng và chuyển tiêu thụ nội địa thì quy định hiện hành về hải quan (Điều 86 Thông tư 38/2015/TT-BTC, đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 55 Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC) và quy định về thuế GTGT chỉ đặt ra quy phạm điều chỉnh về thủ tục hải quan, nghĩa vụ thuế đối với các bên tham gia giao dịch thứ hai, cụ thể là doanh nghiệp chế xuất khai thay đổi mục đích sử dụng, nộp thuế trước khi bán lại, hoặc doanh nghiệp nội địa mở tờ khai nhập khẩu và nộp thuế GTGT vào Ngân sách nhà nước. Trong mọi trường hợp như vậy, hàng hóa do người xuất khẩu ban đầu xuất bán cho doanh nghiệp chế xuất hiện vẫn được áp dụng thuế suất GTGT 0% và không bị điều chỉnh hồi tố theo hướng kết nối hai giao dịch như trường hợp POSCO PVPC xuất bán hàng vào kho ngoại quan.

d. Câu hỏi:

Từ những cơ sở pháp lý và giải trình chi tiết về trường hợp của POSCO PVPC, Công ty cho rằng giao dịch bán hàng hóa, đồng thời chuyển giao mọi rủi ro, quyền sở hữu cho thương nhân nước ngoài trong kho ngoại quan của POSCO PVPC là một giao dịch xuất khẩu hợp lệ, đáp ứng đầy đủ định nghĩa về xuất khẩu theo pháp luật về thương mại, pháp luật quản lý ngoại thương và quy định về thuế GTGT hiện hành. Xét thực tế đây là một giao dịch xuất khẩu đơn nhất giữa người bán và người mua, không có yếu tố chỉ định giao hàng cho bất cứ bên thứ ba là doanh nghiệp nội địa nào khác, theo đó, giao dịch này cần được đối xử bình đẳng về chính sách thuế như mọi giao dịch xuất khẩu thông thường khác.

e. Ý kiến đề xuất:

Chúng tôi kiến nghị tới Bộ Tài chính xem xét và xác nhận mô hình xuất khẩu vào kho ngoại quan như đã trình bày của Công ty đủ điều kiện áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% theo quy định tại Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.

Việc có hướng dẫn rõ ràng và thống nhất về vấn đề này không chỉ giúp cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc tuân thủ đúng pháp luật thuế mà còn tạo sự yên tâm, minh bạch cho cộng đồng doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang thực hiện các giao dịch xuất khẩu tương tự qua kho ngoại quan, tránh những bất định về chính sách trên thực tế.

Trả lời

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 9 và Điều 16, Điều 17 Thông tư số 219/2013/TT-BTC về thuế suất 0% và điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu.

Căn cứ khoản 4 Điều 3, khoản 5 Điều 3 Luật Quản lý ngoại thương quy định về khu vực hải quan riêng và về thương nhân nước ngoài.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại quy định về xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa.

Ngày 17/02/2025, Bộ Tài chính đã có công văn số 1872/BTC-TCT trả lời UBND tỉnh Đồng Nai về nguyên tắc như sau: “Trường hợp doanh nghiệp nội địa bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và được chỉ định giao hàng cho bên thứ ba là doanh nghiệp Việt Nam thông qua kho ngoại quan, nếu không đáp ứng được điều kiện hàng hóa xuất khẩu bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam thì không thuộc trường hợp hàng hóa xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC nêu trên”.

Như vậy, trường hợp doanh nghiệp bán hàng cho tổ chức ở nước ngoài nhưng có điểm giao hàng trong kho ngoại quan thì không đáp ứng điều kiện bán cho tổ chức ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam.

Câu 15

Nội dung vướng mắc:

<Không thể hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT)>

Hải quan đã ban hành Nghị định 167/2025/NĐ-CP và bổ sung điều 47a vào Luật Hải quan nhằm quy định rõ khái niệm hàng hóa xuất nhập khẩu nội địa. Đồng thời, cơ quan thuế cũng đã công bố sửa đổi khoản 1 điều 9 của Luật thuế GTGT để áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu nội địa, và các quy định này đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.

Tuy nhiên, cơ quan thuế hiện vẫn chưa công nhận các lô hàng xuất khẩu nội địa được thực hiện thông qua kho ngoại quan trước tháng 7 năm 2025 là hoạt động xuất khẩu, và do đó đang tạm dừng hoàn thuế GTGT đối với các trường hợp này. Điều này dẫn đến việc doanh nghiệp không thể nhận được khoản hoàn thuế suốt 15 tháng qua (từ tháng 6 năm 2024 đến nay), gây áp lực lớn về dòng tiền.

Nếu việc hoàn thuế GTGT được khôi phục bình thường, dòng tiền của doanh nghiệp sẽ được cải thiện, từ đó có thể thực hiện các khoản đầu tư chiến lược trước và không bị thua kém trong cạnh tranh với các nhà cung cấp từ các quốc gia khác, giúp tăng khả năng nhận đơn hàng.

Kính đề nghị Bộ Tài chính và Cơ quan Thuế xem xét để có thể thực hiện hoàn thuế GTGT cho doanh nghiệp.

Trả lời

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 9 và Điều 16, Điều 17 Thông tư số 219/2013/TT-BTC về thuế suất 0% và điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu.

Căn cứ khoản 4 Điều 3, khoản 5 Điều 3 Luật Quản lý ngoại thương quy định về khu vực hải quan riêng và về thương nhân nước ngoài.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại quy định về xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa.

Ngày 17/02/2025, Bộ Tài chính đã có công văn số 1872/BTC-TCT trả lời UBND tỉnh Đồng Nai về nguyên tắc như sau: “Trường hợp doanh nghiệp nội địa bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam và được chỉ định giao hàng cho bên thứ ba là doanh nghiệp Việt Nam thông qua kho ngoại quan, nếu không đáp ứng được điều kiện hàng hóa xuất khẩu bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam thì không thuộc trường hợp hàng hóa xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC nêu trên”.

Như vậy, trường hợp doanh nghiệp bán hàng cho tổ chức ở nước ngoài nhưng có điểm giao hàng trong kho ngoại quan thì không đáp ứng điều kiện bán cho tổ chức ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam.

Câu 16

Nội dung vướng mắc: Công ty tự xác định được hưởng ưu đãi mà chưa thực hiện đầy đủ thủ tục để được hưởng ưu đãi, ảnh hưởng đến thời gian được hưởng ưu đãi của Công ty.

Tình huống cụ thể:

Công ty Taekwang được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư số 9888307788 do Ban Quản lý các Khu chế xuất và Khu Công nghiệp Cần Thơ cấp lần đầu ngày 04/3/2016 và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên đăng ký lần đầu ngày 07/3/2016 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Cần Thơ cấp.

Về việc hưởng ưu đãi thuế TNDN từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển (ưu đãi theo điều kiện công nghiệp hỗ trợ).

Cơ sở để được áp dụng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện công nghiệp hỗ trợ là Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển.

Đến năm 2024 Công ty mới nộp Hồ sơ xin xác nhận ưu đãi cho dự án sản xuất trong năm 2025 do Bộ Công thương cấp, do đó từ thời điểm phát sinh dự án đến năm 2024 Công ty không được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định..

Trả lời

Tại khoản 5 Điều 1 Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015) quy định:

“5. Bổ sung điểm đ và điểm e vào khoản 1 Điều 13 như sau:

“đ) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

– Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao;

– Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt – may; da – giầy; điện tử – tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.

Chính phủ quy định Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển quy định tại điểm này.”

Tại Điều 4 Thông tư số 21/2016/TT-BTC ngày 5/2/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khai thuế GTGT và ưu đãi thuế TNDN theo quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 3/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ quy định:

“Điều 4. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đáp ứng các Điều kiện quy định tại Luật số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (gọi tắt là Giấy xác nhận ưu đãi).

Trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh Mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển thực hiện theo quy định tại Thông tư số 55/2015/TT-BCT ngày 30/12/2015 của Bộ Công thương.

Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển là cơ sở để áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Về mức ưu đãi, thời Điểm bắt đầu áp dụng ưu đãi, việc chuyển tiếp ưu đãi thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.”

Tại Điều 11, Điều 12 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính quy định:

“Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:

“1. Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn mười lăm năm (15 năm) áp dụng đối với:

g) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau:

– Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao;

– Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt – may; da – giầy; điện tử – tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.

Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện theo Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển ban hành tại Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 26 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ; khi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển có sửa đổi, bổ sung thì thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế có liên quan”.

….

Điều 12. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Điều 20 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung điểm a Khoản 1 Điều 20 Thông tư số 78/2014/TT-BTC như sau:

“1. Miễn thuế bốn năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo đối với:

a) Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư quy định tại khoản 1 Điều 19 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 Điều 11 Thông tư này)”.

Tại Điều 1 Nghị định số 57/2021/NĐ-CP ngày 4/6/2021 của Chính phủ về việc bổ sung điểm g Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 12/2015) về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ quy định:

“Điều 1. Bổ sung điểm g khoản 2 Điều 20 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 20 Điều 1 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP) về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ như sau:

“g) Doanh nghiệp có dự án đầu tư (đầu tư mới và đầu tư mở rộng) sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, thực hiện trước ngày 01 tháng 01 năm 2015, đáp ứng các điều kiện của dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ theo quy định tại Luật số 71/2014/QH13 và được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thì được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

g1) Trường hợp doanh nghiệp có dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ mà thu nhập từ dự án này chưa được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thì được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ kể từ kỳ tính thuế được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

g2) Trường hợp doanh nghiệp có dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ mà thu nhập từ dự án này đã hưởng hết ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện ưu đãi khác (ngoài điều kiện ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ) thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

g3) Trường hợp doanh nghiệp có dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ mà thu nhập từ dự án này đang được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện ưu đãi khác (ngoài điều kiện ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ) thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho thời gian còn lại kể từ kỳ tính thuế được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

g4) Cách xác định thời gian ưu đãi còn lại nêu tại điểm g2 và g3 điểm này:

Thời gian ưu đãi còn lại được xác định bằng thời gian ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trừ đi số năm miễn thuế, số năm giảm thuế, số năm hưởng thuế suất ưu đãi đã được hưởng ưu đãi theo điều kiện ưu đãi khác, cụ thể như sau:

– Thời gian miễn thuế còn lại bằng thời gian miễn thuế theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trừ đi thời gian miễn thuế đã hưởng ưu đãi theo điều kiện ưu đãi khác;

– Thời gian giảm thuế còn lại bằng thời gian giảm thuế theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trừ di thời gian giảm thuế đã hưởng ưu đãi theo điều kiện ưu đãi khác;

– Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi còn lại bằng thời gian ưu đãi thuế suất theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trừ đi thời gian ưu đãi thuế suất đã hưởng theo điều kiện ưu đãi khác (nếu có).”

              Căn cứ các quy định nêu trên, Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển là cơ sở để áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện công nghiệp hỗ trợ. Dự án đầu tư nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định thì được áp dụng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện công nghiệp hỗ trợ kể từ thời điểm được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi. Trường hợp Công ty TNHH TKG Taekwang Cần Thơ được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi số 663/GXN-BCT ngày 24/01/2025, thì thu nhập từ sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện CNHT kể từ thời điểm được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi cho thời gian còn lại. Trường hợp Công ty đang được hưởng hoặc đã hưởng hết ưu đãi theo điều kiện khác thì thời gian hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phải trừ đi thời gian ưu đãi đã hưởng theo điều kiện khác.

Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2025: Nội dung trả lời câu hỏi Hội nghị (Phần IV)

Ngày 30/09/2025

Câu 17

Nội dung vướng mắc:

(1) Chúng tôi xin cảm ơn Bộ Tài chính đã thúc đẩy việc miễn áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu đối với các doanh nghiệp BOT, và hy vọng rằng việc này sẽ được Quốc hội chính thức phê duyệt vào kỳ họp dự kiến vào tháng 10 năm 2025.

(2) Liên quan đến Nghị định 132/2020/NĐ-CP, do quy định giới hạn chi phí lãi vay ở mức 30% EBITDA, nên số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cao hơn so với kế hoạch kinh doanh, gây khó khăn trong việc triển khai dự án.

Trả lời

(1)

Ngày 10/10/2025, Chính phủ có Tờ trình số 898/TTr-CP gửi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu (sau đây gọi là dự thảo Nghị quyết của Quốc hội).

Ngày 16/10/2025, Ủy ban Kinh tế và Tài chính có Báo cáo thẩm tra sơ bộ số 1272/BC-UBKTTC15 về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội. Ngày 23/10/2025, Văn phòng Quốc hội đã có Thông báo số 3949/TB-VPQH thông báo kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Phiên họp thứ 50 về dự thảo Nghị quyết. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có kết luận như sau:

Thứ nhất, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2025 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Chính phủ chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Nghị quyết này, nhằm tháo gỡ nhanh, kịp thời các khó khăn vướng mắc, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội đạt mục tiêu đề ra.

Thứ hai, đề nghị Chính phủ đánh giá kỹ tác động, lưu ý các ý kiến cụ thể của cơ quan thẩm tra trong Báo cáo thẩm tra; nếu thực sự cần thiết phải có cơ chế để giải quyết phù hợp các trường hợp vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết 107/2023/QH15 thì ban hành Nghị quyết của Chính phủ theo quy định tại Nghị quyết số 206/2025/Qh15 của Quốc hội để thực hiện. Đồng thời Chính phủ tiếp tục rà soát tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi áp dụng Nghị quyết số 107/2023/QH15, tổng hợp các vướng mắc, bất cập để trình Quốc hội sửa đổi trước 03/2027 (trong trường hợp cần thiết)”.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang tiếp tục rà soát, hoàn thiện hồ sơ theo Thông báo của UBTVQH

        (2)

Quy định về việc khống chế chi phí lãi vay được trừ đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết để hạn chế tình trạng doanh nghiệp vay vốn quá mức, quá khả năng chi trả (chi phí lãi vay được trừ tương ứng với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp) và khắc phục trường hợp chuyển giá thông qua lãi vay trả cho các bên liên kết, góp phần làm lành mạnh tình hình tài chính doanh nghiệp nói riêng và an ninh tài chính tiền tệ quốc gia nói chung.

Việc quy định tỷ lệ khống chế 30% theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP là mức tỷ lệ cao nhất theo khuyến nghị của OECD đối với các quốc gia (mức khuyến nghị của OECD là từ 10%-30%). Quy định này được áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp có giao dịch liên kết không phân biệt loại hình doanh nghiệp.

Câu 18

Nội dung vướng mắc:

Theo hồ sơ đề nghị hoàn thuế, ngày 19/09/2024  Công ty TNHH Posco Eco & Challenge Việt Nam có gửi đề nghị hoàn thuế GTGT số 022024POS đến Cục thuế Tỉnh Đồng Nai (kỳ hoàn thuế từ T12/2023-T08/2024), sau đó chúng tôi phát hiện ra một số hóa đơn giá trị gia tăng mua vào trước tháng 9/2024 bị kê khai sót với số tiền thuế GTGT là 1.239.375.173 đồng, và chúng tôi đã kê khai các hóa đơn sót này vào  kỳ tháng 9/2024, ngày kê khai 17/10/2024 trước khi được Cục Thuế tỉnh Đồng Nai công bố quyết định kiểm tra trước hoàn thuế của kỳ tính thuế từ tháng 12/2023 đến tháng 8/2024  vào ngày 22/10/2024. Nay công ty kính mong Cục Thuế xem xét hướng dẫn công ty kê khai các hóa GTGT bỏ sót này cho phù hợp theo đúng quy định của pháp luật .

Trả lời

Tại khoản 6 Điều 1 Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:

“6. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:

 “Điều 12. Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

1. Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào như sau:

đ) Thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.

Tại điểm g khoản 1 Điều 9 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định về khấu trừ thuế thuế GTGT đầu vào như sau:

“g) Thuế giá trị gia tăng đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.”

Tại khoản 8 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:

“8. Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong kỳ nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của kỳ đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho.

Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.”

Tại Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế như sau:

“1. Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế trong thời hạn 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót nhưng trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm tra.

2. Khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã công bố quyết định thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế thì người nộp thuế vẫn được khai bổ sung hồ sơ khai thuế; cơ quan thuế thực hiện xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hành vi quy định tại Điều 142 và Điều 143 của Luật này.

3. Sau khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về thuế sau thanh tra, kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế thì việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế được quy định như sau:

a) Người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế đối với trường hợp làm tăng số tiền thuế phải nộp, giảm số tiền thuế được khấu trừ hoặc giảm số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn và bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hành vi quy định tại Điều 142 và Điều 143 của Luật này;

b) Trường hợp người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế có sai, sót nếu khai bổ sung làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được khấu trừ, tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn thì thực hiện theo quy định về giải quyết khiếu nại về thuế.”

Tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế như sau:

“4. Người nộp thuế được nộp hồ sơ khai bổ sung cho từng hồ sơ khai thuế có sai, sót theo quy định tại Điều 47 Luật Quản lý thuế và theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Người nộp thuế khai bổ sung như sau:

b) Người nộp thuế khai bổ sung dẫn đến tăng số thuế phải nộp hoặc giảm số thuế đã được ngân sách nhà nước hoàn trả thì phải nộp đủ số tiền thuế phải nộp tăng thêm hoặc số tiền thuế đã được hoàn thừa và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước (nếu có).

Trường hợp khai bổ sung chỉ làm tăng hoặc giảm số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ chuyển kỳ sau thì phải kê khai vào kỳ tính thuế hiện tại. Người nộp thuế chỉ được khai bổ sung tăng số thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn khi chưa nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế tiếp theo và chưa nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế.”

Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty TNHH Chemtrovina có số thuế GTGT đầu vào của một số hóa đơn GTGT đầu vào phát sinh trước tháng 9/2024 bị bỏ sót thì Công ty được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở Công ty theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Luật số 31/2013/QH13, Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ.

Câu 19

Nội dung vướng mắc:

Công ty có dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ mà thu nhập từ dự án này đã hưởng hết ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện dự án đầu tư mới tại Khu công nghiệp, sau đó dự án được Bộ Công thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi số 474/GXN-BCT ngày 17/01/2025 xác nhận sản phẩm sản xuất tại dự án thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, thì Công ty được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ như thế nào?

Trả lời

Căn cứ khoản 5 Điều 1 Luật số 71/2014/QH13; Điều 4 Thông tư số 21/2016/TT-BTC ngày 5/2/2016 của Bộ Tài chính; Điều 1 Nghị định số 57/2021/NĐ-CP ngày 4/6/2021 của Chính phủ, Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển là cơ sở để áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điều kiện công nghiệp hỗ trợ. Việc xác định thời điểm áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với sản phẩm công nghiệp hỗ trợ căn cứ thời điểm sản phẩm được cấp Giấy xác nhận ưu đãi của Bộ Công thương.

Trường hợp Công ty đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện dự án đầu tư mới tại Khu công nghiệp. Ngày 17/01/2025, Công ty được Bộ Công thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi số 474/GXN-BCT xác nhận sản phẩm sản xuất tại dự án của Công ty thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, thì dự án của Công ty được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện CNHT kể từ thời điểm được Bộ Công thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi cho thời gian còn lại theo quy định.

Câu 20

1. Về việc đăng ký áp dụng dự án đầu tư mở rộng 2023:

 Công ty Dong Shin là doanh nghiệp chế xuất 100% vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2024, Công ty Dong Shin bắt đầu triển khai thực hiện việc đầu tư mở rộng được phê duyệt cuối năm 2023 (do thời gian 02 tháng cuối năm không đủ cho việc triển khai dự án). Công ty đề nghị được hướng dẫn về việc phải đăng ký áp dụng dự án hay có thể tự xác định theo bất cứ tiêu chí nào mà Công ty đáp ứng.

2. Về việc kê khai nộp thuế TNDN:

Dự án đầu tư mở rộng của Công ty Dong Shin được cấp phép ngày 18/10/2023, do chỉ mới đi vào hoạt động 02 tháng nên Công ty quyết định bắt đầu áp dụng hưởng ưu đãi thuế TNDN từ kỳ tính thuế tiếp theo. Do đó, năm 2024, Công ty đã hạch toán riêng, kê khai áp dụng ưu đãi thuế TNDN năm đầu tiên. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 18/10/2023 đến 31/12/2023, Công ty Dong Shin đã gộp chung với giai đoạn trước để kê khai nộp thuế TNDN. Công ty đề nghị được hướng dẫn về việc hạch toán riêng hay chung đối với giai đoạn từ 18/10/2023 đến 31/12/2023.

Trả lời

1. Về việc đăng ký áp dụng dự án đầu tư mở rộng 2023

Trường hợp Công ty Dong Shin có dự án đầu tư mở rộng đáp ứng một trong các tiêu chí quy định tại Khoản 4 Điều 10 Thông tư số 96/2015/TT- BTC thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (bao gồm mức thuế suất, thời gian miễn giảm nếu có) hoặc được áp dụng thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại (không được hưởng mức thuế suất ưu đãi) bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với dự án đầu tư mới trên cùng địa bàn hoặc lĩnh vực ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

2. Về việc kê khai nộp thuế TNDN:

Công ty phải hạch toán riêng phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại để kê khai hưởng ưu đãi. Trường hợp Công ty không hạch toán riêng được phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại thì thu nhập từ hoạt động đầu tư mở rộng xác định theo tỷ lệ giữa nguyên giá tài sản cố định đầu tư mới đưa vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trên tổng nguyên giá tài sản cố định của doanh nghiệp.

Công ty tự xác định các điều kiện ưu đãi thuế, mức ưu đãi thuế TNDN được hưởng để tự kê khai và tự quyết toán thuế với cơ quan thuế.

Trường hợp Công ty lựa chọn thời gian ưu đãi thuế vào kỳ tính thuế tiếp theo (năm 2024) thì đăng ký với cơ quan thuế và xác định số thuế phải nộp của kỳ tính thuế đầu tiên (giai đoạn từ 18/10/2023 đến 31/12/2023) để kê khai và nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 5 điều 10 Thông tư số 96/2015/TT-BTC.

Câu 21

Nội dung vướng mắc:

– Ưu đãi thuế TNDN theo địa bàn đối với các khoản thu nhập khác như thu  nhập từ bán phế liệu, lãi tiền gửi, lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái.

– Việc hạch toán và tính thuế TNDN đối với số thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu bị ấn định, số tiền phạt phải nộp theo quyết định kiểm tra sau thông quan của Cơ quan hải quan.

– Việc bù trừ lãi/ lỗ giữa hoạt động ưu đãi thuế TNDN và hoạt động không được ưu đãi thuế TNDN.

Trả lời

i). Về ưu đãi thuế TNDN đối với khoản thu nhập khác

Căn cứ pháp luật về thuế TNDN hiện hành, về mặt nguyên tắc nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế TNDN do đáp ứng điều kiện ưu đãi về địa bàn thì thu nhập được hưởng ưu đãi là thu nhập phát sinh của hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án đầu tư trên địa bàn trừ các khoản thu nhập không được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật thuế TNDN. Các khoản thu nhập không thuộc thu nhập phát sinh từ dự án đầu tư trên địa bàn ưu đãi đầu tư, bao gồm thu  nhập từ bán phế liệu, lãi tiền gửi, lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái thì không được hưởng ưu đãi thuế TNDN.

ii). Về chi phí tính thuế đối với số thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu bị ấn định, số tiền phạt phải nộp theo quyết định kiểm tra sau thông quan của Cơ quan hải quan.

Trường hợp doanh nghiệp phát sinh các khoản thuế nhập khẩu thì được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu khoản thuế nhập khẩu trên liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa có thuế liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật

Trường hợp nếu doanh nghiệp được hoàn thuế nhập khẩu liên quan đến khoản hàng hóa nhập khẩu nêu trên thì doanh nghiệp phải thực hiện điều chỉnh giảm chi phí đã được khấu trừ tương ứng khi hạch toán thu nhập chịu thuế.

Đối với số tiền phạt bị ấn định phải nộp theo quyết định kiểm tra sau thông quan của Cơ quan hải quan thì không được tính là khoản chi phí được trừ khi tính thuế TNDN theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN.

iii). Việc bù trừ lãi/ lỗ giữa hoạt động ưu đãi thuế TNDN và hoạt động không được ưu đãi thuế TNDN.

– Về việc bù trừ lỗ giữa các dự án đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN, Cục Thuế có công văn số 5781/TCT-CS ngày 19/12/2023, đồng thời Cục QLGS CST đã có công văn số 867/CST-TN ngày 09/5/2024 trả lời Công ty TNHH Cocreation Grass Corporation Việt Nam. Theo đó, pháp luật thuế TNDN hiện hành không quy định việc bù trừ giữa các dự án được hưởng ưu đãi bị lỗ với các dự án được hưởng ưu đãi khác có thu nhập.

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về quản lý thuế tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC, doanh nghiệp có cơ sở hạch toán phụ thuộc được hưởng ưu đãi thuế TNDN tại địa phương khác tỉnh, thành phố với nơi đóng trụ sở chính thì doanh nghiệp phải xác định riêng số thuế TNDN phải nộp cho hoạt động được hưởng ưu đãi với cơ quan thuế nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh được ưu đãi. Do đó, không thực hiện bù trừ lãi lỗ giữa các chi nhánh, giữa chi nhánh với trụ sở chính với nhau trong thời gian chi nhánh được hưởng ưu đãi thuế TNDN.

Câu 22

Công ty nhập khẩu của bên B tại Hàn quốc, ban đầu để điều kiện giao hàng là DDP, tạm ứng 50% trước khi nhập hàng_SAP có nghĩa vụ đóng thuế nhà thầu, tuy nhiên, trong quá trình mua bán, bên B không thể thực hiện được việc xuất nhập khẩu hàng hóa sang Việt Nam, nên đã thương lượng SAP vina chuyển sang loại hình EXW, như vậy phần thuế nhà thầu đã đóng cho 50% tiền tạm ứng có được cho vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp không, việc làm phụ lục hợp đồng chuyển đổi loại hình từ DDP sang EXW có hợp lý không?

Trả lời

Căn cứ khoản 2, Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp:

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau:

2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

2.37. Thuế giá trị gia tăng đầu vào đã được khấu trừ hoặc hoàn thuế; thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản cố định là ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống vượt mức quy định được khấu trừ theo quy định tại các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng; thuế thu nhập doanh nghiệp trừ trường hợp doanh nghiệp nộp thay thuế thu nhập doanh nghiệp của nhà thầu nước ngoài mà theo thoả thuận tại hợp đồng nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài, doanh thu nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài nhận được không bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân trừ trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng lao động quy định tiền lương, tiền công trả cho người lao động không bao gồm thuế thu nhập cá nhân.”.

               Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp theo thoả thuận tại hợp đồng nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài, doanh thu nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài nhận được không bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp thì phần thuế TNDN nộp thay nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài là khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2025: Nội dung trả lời câu hỏi Hội nghị (Phần V)

Ngày 30/09/2025

Câu 23

Đăng ký sử dụng hóa đơn có tiếng Việt không dấu và vướng mắc trong việc lập hóa đơn, chứng từ đối với các khoản hỗ trợ bán ra có điều kiện và không có điều kiện cho nhà phân phối, đại lý.

Trả lời

– Căn cứ khoản 5, Điều 10 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, hóa đơn hợp lệ phải tuân thủ các quy định tại Điều 10 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ. Trường hợp tên, địa chỉ người mua quá dài, CN Công ty TNHH LG Electronics Việt Nam Hải Phòng tại Hà Nội được viết ngắn gọn nhưng phải đảm bảo không làm sai lệch thông tin và phù hợp với đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế của doanh nghiệp.

– Căn cứ Khoản 1, Điều 5 Thông tư  số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính:

+ Đối với các khoản hỗ trợ có điều kiện dịch vụ đi kèm như hỗ trợ sửa chữa bảo hành, khuyến mại, quảng cáo v.v..  thì khi thanh toán CN Công ty TNHH LG Electronics Việt Nam Hải Phòng tại Hà Nội yêu cầu khách hàng, đại lý phát hành hóa đơn GTGT và thực hiện kê khai nộp thuế GTGT theo quy định.

+ Đối với các khoản hỗ trợ không có điều kiện dịch vụ CN Công ty TNHH LG Electronics Việt Nam Hải Phòng tại Hà Nội lập chứng từ chi đính kèm chứng từ chuyển tiền. Các khách hàng, đại lý lập phiếu thu, không lập hóa đơn GTGT.

Câu 24

Công ty hoạt động trong lĩnh vực cho thuê mặt bằng tại trung tâm thương mại, với hình thức cho thuê theo tỷ lệ phần trăm doanh thu của bên thuê. Do đó, việc xác định doanh thu làm căn cứ tính tiền thuê cần thực hiện đối soát với bên thuê sau mỗi kỳ (thường là theo tháng). Thực tế hiện nay, theo hợp đồng đã ký giữa Công ty và các đơn vị thuê mặt bằng có ghi rõ: “Bên Thuê trong vòng (03) ngày làm việc kể từ khi kết thúc mỗi tháng sẽ cung cấp cho bên cho thuê bản sao kê doanh thu hàng tháng dưới dạng văn bản, thể hiện số chính xác của Tổng doanh thu trong tháng đó”. Câu hỏi:

1. Trường hợp của Công ty có thuộc diện được lập hóa đơn theo kỳ đối soát, sau khi hoàn tất việc đối soát doanh thu hàng tháng với từng đơn vị thuê mặt bằng, như quy định tại NĐ 70 hay không?

2. Nếu được áp dụng, thời điểm lập hóa đơn được xác định là khi nào:

+ Ngày hoàn tất đối soát với bên thuê?

+ Hay là ngày cuối cùng của kỳ đối soát (ví dụ: ngày cuối tháng)?

3. Có cần thông báo hay đăng ký hình thức đối soát và thời điểm lập hóa đơn với Chi cục Thuế hay không?

Trả lời

Quy định tại Khoản 6 Điều 1 NĐ 70 và Điều 6 Thông tư 32/2025/TT-BTC đã quy định các trường hợp ngày lập hóa đơn là thời điểm hoàn thành việc đối soát dữ liệu giữa các bên nhưng chậm nhất không quá ngày 07 của tháng sau tháng phát sinh việc cung cấp dịch vụ hoặc không quá 07 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ quy ước. Đề nghị Công ty nghiên cứu hoạt động thực tế của Công ty để thực hiện theo quy định. Trường hợp phát hiện hóa đơn đã lập sai thì công ty thực hiện điều chỉnh, thay thế hóa đơn đã lập theo quy định tại Khoản 13 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP.

Câu 25

Trường hợp doanh nghiệp đề nghị hoàn thuế, mà tại kỳ đề nghị hoàn, chưa nhận đủ tiền hàng từ khách hàng thanh toán thì doanh nghiệp có đề nghị hoàn hết luôn được không, hay là phải phân bổ theo tỷ lệ doanh thu nhận được tiền.

Trả lời

Do vướng mắc của Công ty chưa nêu rõ kỳ hoàn thuế nên Cục Thuế trả lời theo quy định hiện hành như sau:

Theo quy định pháp luật về thuế GTGT thì để được khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, CSKD phải đáp ứng các điều kiện theo quy định, trong đó có điều kiện chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Do đó, trường hợp CSKD chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì không đáp ứng điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo quy định. Việc xác định kỳ đề nghị hoàn thuế thực hiện theo quy định tại Điều 15 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15.

Câu 26

Luật Thuế GTGT 2024 phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trừ 1 số trường hợp đặc thù do Chính phủ quy định, mà hiện tại chưa thấy văn bản quy định về các trường hợp đặc thù đó, vậy trường hợp mình mua hàng ở Co.op mart hay điện máy xanh, thế giới di dộng, bách hóa xanh thì bên đó toàn yêu cầu trả tiền ngay lúc nhận hàng (đồng nghĩa với việc thanh toán bằng tiền mặt), vậy thì doanh nghiệp phải xử lý như thế nào với trường hợp này để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Trả lời

Ngày 01/7/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế GTGT, theo đó, tại Điều 26 đã quy định cụ thể về điều kiện chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (5 triệu đồng) và một số trường hợp đặc thù theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng.

Đề nghị Công ty nghiên cứu các trường hợp đặc thù được quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ, trong đó có quy định CSKD được khấu trừ trong trường hợp HHDV mua vào phục vụ cho hoạt động SXKD HHDV chịu thuế GTGT được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của CSKD thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của CSKD, sau đó CSKD thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Câu 27

Nội dung vướng mắc:

Công ty trực tiếp cung cấp dịch vụ cho các tổ chức trong khu phi thuế quan, phục vụ trực tiếp cho HĐSX xuất khẩu thì áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng như thế nào.

Trả lời

Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 quy định về mức thuế suất 0% đối với dịch vụ xuất khẩu;

Căn cứ quy định tại Điều 17 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT quy định về mức thuế suất 0%.

Trường hợp CSKD cung cấp dịch vụ trực tiếp cho tổ chức ở trong khu phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xuất khẩu, bao gồm: dịch vụ cung cấp trực tiếp cho tổ chức ở trong khu phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xuất khẩu; dịch vụ vận chuyển, dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất (dịch vụ nâng hạ container tại cảng, nhà máy, kho hàng; dịch vụ xếp dỡ, bốc xếp tại nhà máy, cảng, sân bay và các chi phí phát sinh có liên quan như: phí chứng từ, phí điện giao hàng, phí niêm chì, phí làm hàng, phí đóng gói), trừ các dịch vụ không được áp dụng thuế suất 0%.

Hàng hóa, dịch vụ bán, cung cấp cho tổ chức trong khu phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phục vụ cho hoạt động sản xuất xuất khẩu của tổ chức trong khu phi thuế quan và không phục vụ cho hoạt động khác không phải hoạt động sản xuất xuất khẩu, trừ các hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 4 Điều 17.

Đề nghị nghiên cứu các quy định trên và căn cứ thực tế dịch vụ cung cấp để thực hiện.

Câu 28

Nội dung vướng mắc:

Đề nghị được sử dụng bảng kê kèm hóa đơn điện tử theo quy định tại Điều 1, mục 7 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/03/2025.

Trả lời

Căn cứ điểm b khoản 7 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 6 Điều 10 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về nội dung của hóa đơn;

Trường hợp cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ đặc thù như điện, nước, dịch vụ viễn thông, dịch vụ công nghệ thông tin, dịch vụ truyền hình, dịch vụ bưu chính và chuyển phát, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, được lập theo kỳ quy ước, dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các trường hợp khác theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính được lập hóa đơn sau khi đối soát dữ liệu thì người bán được sử dụng bảng kê kèm theo hóa đơn; bảng kê được lưu giữ cùng hóa đơn để phục vụ việc kiểm tra, đối chiếu của các cơ quan có thẩm quyền.

Trường hợp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về thương mại; cho, biếu, tặng hàng hóa, dịch vụ phù hợp với quy định pháp luật thì được lập hóa đơn tổng giá trị khuyến mại, cho, biếu, tặng kèm theo danh sách khuyến mại, cho, biếu, tặng.

Đề nghị Công ty căn cứ các quy định pháp luật nêu trên và hàng hóa, dịch vụ cụ thể mà Công ty kinh doanh để thực hiện theo quy định.

Câu 29

Nội dung vướng mắc:

Công ty chuẩn bị triển khai dịch vụ phòng tập golf trong nhà (screen golf) – là mô hình mô phỏng sân golf trong không gian kín, sử dụng gậy golf thật và màn hình tương tác điện tử nhằm phục vụ mục đích luyện tập, nâng cao kỹ năng chơi golf cho khách hàng. Dịch vụ phòng tập golf  trong nhà (screen golf) như mô tả nêu trên có thuộc đối tượng được áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 8% theo quy định tại Nghị định số 180/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ hay không?

Trả lời

Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 2 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 ngày 14/11/2008 quy định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 180/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 về chính sách giảm thuế GTGT theo Nghị quyết số 174/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội.

Căn cứ quy định nêu trên Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt không quy định hoạt động cung cấp dịch vụ chơi Golf trong nhà, mô phỏng qua màn hình 3D điện tử, phục vụ mục đích luyện tập, nâng cao kỹ năng chơi Golf thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Theo đó trường hợp của Công ty có hoạt động dịch vụ phòng tập Golf 3D trong nhà mô phỏng môn thể thao Golf qua màn hình 3D điện tử không phải kê khai nộp thuế TTĐB. Công ty thực hiện kê khai thuế GTGT và áp dụng thuế suất theo quy định tại Nghị định số 180/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 về chính sách giảm thuế GTGT theo Nghị quyết số 174/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội.

Câu 30

Nội dung vướng mắc:

Công ty gia công xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài, thời điểm lập hóa đơn và ngày xác định doanh thu tính xuất khẩu để tính thuế thực hiện như thế nào?

Trả lời

Căn cứ điểm a khoản 6 Điều 1 Nghị định số 70/2025/NĐ-CP ngày 20/3/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 9 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về thời điểm lập hóa đơn đối với xuất khẩu hàng hóa do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định pháp luật về hải quan.

Căn cứ khoản 1 Điều 15 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định về thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất khẩu do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định của pháp luật về hải quan.”

Như vậy, thời điểm lập hóa đơn và thời điểm xác định thuế GTGT đối với HHXK đã thống nhất với nhau, do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định của pháp luật về hải quan.

Câu 31

Nội dung vướng mắc:

Cách tính tiền chậm nộp thuế

Trả lời

Đề xuất của Ban NVT:

Điều 59 Luật Quản lý thuế số 38/2019/Qh14 quy định về việc chậm nộp tiền thuế như sau:

Điều 59. Xử lý đối với việc chậm nộp tiền thuế

2. Mức tính tiền chậm nộp và thời gian tính tiền chậm nộp được quy định như sau:

a) Mức tính tiền chậm nộp bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp;

b) Thời gian tính tiền chậm nộp được tính liên tục kể từ ngày tiếp theo ngày phát sinh tiền chậm nộp quy định tại khoản 1 Điều này đến ngày liền kề trước ngày số tiền nợ thuế, tiền thu hồi hoàn thuế, tiền thuế tăng thêm, tiền thuế ấn định, tiền thuế chậm chuyển đã nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Người nộp thuế tự xác định số tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định. Trường hợp người nộp thuế có khoản tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật này.

4. Trường hợp sau 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, người nộp thuế chưa nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt thì cơ quan quản lý thuế thông báo cho người nộp thuế biết số tiền thuế, tiền phạt còn nợ và số ngày chậm nộp.

Căn cứ quy định trên thì Luật Quản lý thuế đã có quy định về cách tính tiền chậm nộp thuế. Do đó, đề nghị người nộp thuế nghiên cứu thực hiện theo đúng quy định.

Nếu có vướng mắc trong quá trình thực hiện, đề nghị người nộp thuế nêu rõ nội dung vướng mắc để cơ quan thuế hướng dẫn chi tiết theo đúng quy định.

Bản tin này chỉ mang tính chất tham khảo, không phải ý kiến tư vấn cụ thể cho bất kì trường hợp nào

Đăng kí để nhận bản tin từ Gonnapass

Liên hệ tư vấn dịch vụ Kế toán – Thuế – Đào tạo: Ms Huyền – 094 719 2091

Tham khảo dịch vụ tư vấn từng lần – giải quyết các nỗi lo rủi ro thuế

Mọi thông tin xin liên hệ:

Công ty TNHH Gonnapass

Phòng 701, tầng 7, toà nhà 3D Center, số 3 Duy Tân, P Dịch Vọng Hậu, Q Cầu Giấy, TP Hà Nội

Email: hotro@gonnapass.com

Facebook: https://www.facebook.com/gonnapassbeyondyourself/

Group Facebook chia sẻ mẫu biểu: https://www.facebook.com/groups/congvanketoan

Group Zalo chia sẻ miễn phí: https://zalo.me/g/xfqykr286

Website: https://gonnapass.com

Hotline/ Zalo : 0888 942 040

avatar
admin

Nếu bạn thích bài viết, hãy thả tim và đăng ký nhận bản tin của chúng tôi

Ý kiến bình luận

You cannot copy content of this page